Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố    
Cập nhật: 02/11/2020 09:53
Xem lịch sử tin bài

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố là cách thức mà các cơ quan này phối hợp với nhau trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Cơ chế này được quy định cụ thể trong Luật Thanh tra 2010, Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 2010 (Nghị định 86/2011/NĐ-CP) và Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-TTCP ngày 18/10/2018 quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra (Thông tư liên tịch 03). Nội dung phối hợp cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý

 

Cơ chế phối hợp giữa các cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố là cách thức mà các cơ quan này phối hợp với nhau trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Cơ chế này được quy định cụ thể trong Luật Thanh tra 2010, Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thanh tra 2010 (Nghị định 86/2011/NĐ-CP) và Thông tư liên tịch số 03/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP-TTCP ngày 18/10/2018 quy định về phối hợp giữa cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan thanh tra trong việc trao đổi thông tin về tội phạm và giải quyết kiến nghị khởi tố được phát hiện thông qua hoạt động thanh tra (Thông tư liên tịch 03). Nội dung phối hợp cụ thể như sau:

 

1.1. Về trách nhiệm của các cơ quan trong việc phối hợp

 

Điều 11 Luật Thanh tra 2010 quy định trách nhiệm phối hợp giữa cơ quan thực hiện chức năng thanh tra với cơ quan, tổ chức hữu quan, cụ thể:

 

“Cơ quan thực hiện chức năng thanh tra trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với cơ quan Công an, Viện kiểm sát, cơ quan, tổ chức hữu quan trong việc phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi phạm pháp luật.

 

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan Công an, Viện kiểm sát có trách nhiệm xem xét kiến nghị khởi tố vụ án hình sự do cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyển đến và trả lời bằng văn bản về việc xử lý kiến nghị đó”. Đây là quy định mang tính nguyên tắc chung được Luật Thanh tra 2010 quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm giữa cơ quan thanh tra, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện phối hợp trong việc phòng ngừa tham nhũng và xem xét kiến nghị khởi tố vụ án hình sự do cơ quan thanh tra chuyển đến.

 

1.2. Về căn cứ phát sinh mối quan hệ phối hợp

 

Căn cứ phát sinh quan hệ phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là “dấu hiệu tội phạm”. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định: “Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự” (khoản 5, Điều 5). Nghị định số 86/2011/BĐ-CP quy định: Trong quá trình thanh tra hoặc khi kết thúc thanh tra, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, người ra quyết định thanh tra phải chuyển hồ sơ vụ việc và bản kiến nghị khởi tố đến cơ quan điều tra để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện Kiểm sát có thẩm quyền biết (Điều 44).

 

Hướng dẫn chi tiết nội dung mối quan hệ phối hợp, Thông tư liên tịch số 03 quy định về trách nhiệm chuyển hồ sơ vụ việc, kiến nghị khởi tố (Điều 5). Theo đó, “Trong quá trình thanh tra, nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan thanh tra có văn bản kiến nghị khởi tố và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kèm theo hồ sơ, tài liệu có liên quan để xem xét, quyết định việc khởi tố vụ án hình sự.

 

Sau khi kết thúc cuộc thanh tra, nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, Cơ quan thanh tra có văn bản kiến nghị khởi tố và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kèm theo hồ sơ, tài liệu có liên quan để xem xét, quyết định việc khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp”.

 

Đây là một hình thức phối hợp nhằm xử lý vụ việc cụ thể giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra phát hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thanh tra. Thông qua hoạt động thanh tra, những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng, làm thất thoát tài sản của nhà nước, xâm phạm đến trật tự kinh tế - xã hội được pháp luật bảo vệ, cơ quan thanh tra sẽ củng cố hồ sơ, thu thập, bổ sung chứng cứ và chuyển sang cơ quan điều tra để điều tra theo thẩm quyền.

 

Vấn đề quan trọng để phát sinh mối quan hệ phối hợp này là việc cơ quan thanh tra phát hiện vụ việc có “dấu hiệu tội phạm”. Để xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cơ quan thanh tra phải xác định hành vi phạm của đối tượng thanh tra thỏa mãn các (04) yếu tố sau:

 

- Hành vi có tính nguy hiểm cho xã hội: Biểu hiện của hành vi là gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho xác quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ. Tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như: tính chất khách quan của quan hệ xã hội bị xâm hại; tính chất và mức độ hậu quả; tính chất và mức độ lỗi; tính chất của động cơ, mục đích; tính chất của thủ đoạn, phương tiện cũng như hoàn cảnh thực hiện hành vi; các đặc điểm về nhân thân của chủ thể... Để đánh giá hành vi có tính nguy hiểm đáng kể của tội phạm hay không và nguy hiểm đến mức độ nào cần xem xét đánh giá tất cả các yếu tố này đặt trong mối liên hệ tổng hợp với nhau.

 

- Tính có lỗi của tội phạm: Chủ thể thực hện hành vi phạm tội nhận thức được hành vi nguy hiểm hay không nguy hiểm, gây thiệt hại hay không gấy thiệt hại, khả năng gây thiệt hại như thế nào… nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hậu quả xảy ra.

 

- Tính trái pháp luật hình sự: Đòi hỏi hành vi bị coi là tội phạm phải được Bộ luật hình sự, hay nói cách khác chỉ hành vi được quy định trong Bộ luật hình sự mới được coi là tội phạm.

 

- Tính chịu hình phạt: Khi qui định một hành nào là tội phạm, Bộ luật hình sự quy định hình phạt tương ứng đối với tội phạm đó. Khi một hành vi phạm tội nào đó đã được thực hiện, thì chủ thể của hành vi đó đều bị đe dọa phải chịu hình phạt là loại biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước. Việc thừa nhận tính chịu hình phạt là một dấu hiệu bắt buộc của tội phạm chứng minh rằng hình phạt luôn gắn liền với tội phạm.

 

Vì vậy, chỉ khi xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm thỏa mãn các yếu tố nêu trên và cơ quan thanh tra có văn bản kiến nghị khởi tố mới phát sinh mối quan hệ phối hợp trong việc xử lý vụ việc. Việc xác định vụ việc nào có dấu hiệu tội phạm hay không phụ thuộc vào việc đánh giá và nhận định của cơ quan thanh tra dựa trên hồ sơ, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra.

 

1.3. Về trình tự, thủ tục phối hợp

 

Sau khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm, hoạt động phối hợp được chia thành 2 giai đoạn chính với trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan.

 

- Giai đoạn 1: Điều 44 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định “… trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, người ra quyết định thanh tra phải chuyển hồ sơ vụ việc và bản kiến nghị khởi tố đến cơ quan điều tra để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện Kiểm sát có thẩm quyền biết”. Việc thông báo cho Viện kiểm sát trên cơ sở thẩm quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát để kiểm sát hoạt động tiếp nhận, xử lý hồ sơ của cơ quan điều tra. Giai đoạn này được coi là giai đoạn chuyển hồ sơ, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tiến hành thanh tra và văn bản kiến nghị khởi tố sang cơ quan điều tra. Trong giai đoạn này, cơ quan thanh tra và cơ quan điều tra thường phối hợp với nhau nhằm củng cố, hoàn thiện hồ sơ; đánh giá đúng bản chất vụ việc, tính chất và mức độ phạm tội; đánh giá trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan… nhằm phục vụ có hiệu quả trong quá trình tiến hành điều tra.  

 

- Giai đoạn 2: Về phía cơ quan điều tra: “… trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan điều tra phải ra một trong các quyết định sau đây:

 

(i) Quyết định khởi tố vụ án hình sự;

 

(ii) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự;

 

(iii) Quyết định chuyển hồ sơ vụ việc cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

 

Trường hợp vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh ở nhiều nơi thì thời hạn trả lời có thể dài hơn, nhưng không quá 60 ngày. Quá thời hạn này, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra không nhận được thông báo bằng văn bản về kết quả xử lý của cơ quan điều tra thì có quyền kiến nghị với Viện Kiểm sát cùng cấp để xem xét, giải quyết. Trong trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của Viện Kiểm sát thì cơ quan thực hiện chức năng thanh tra kiến nghị với Viện Kiểm sát, cơ quan điều tra cấp trên trực tiếp để chỉ đạo, giải quyết”.

 

1.4. Về giải quyết kiến nghị khởi tố

 

Điều 7 Thông tư liên tịch số 03 quy định cụ thể trách nhiệm giải quyết kiến nghị khởi tố như sau:

 

“Trường hợp có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do đến Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố;

 

Trường hợp có căn cứ để khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết;

 

Trường hợp chưa đủ căn cứ khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì Cơ quan điều tra tiến hành xác minh để thu thập, bổ sung chứng cứ và đề nghị Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố phối hợp thực hiện khi xét thấy cần thiết;

 

Trường hợp không khởi tố vụ án hình sự mà cần xử lý bằng biện pháp khác thì Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết và thông báo bằng văn bản cho Cơ quan thanh tra, Viện kiểm sát;

 

Trường hợp có căn cứ tạm đình chỉ hoặc phục hồi việc giải quyết kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra ra quyết định tạm đình chỉ hoặc phục hồi và gửi cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

 

Viện kiểm sát cùng cấp thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết kiến nghị khởi tố theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi ra các quyết định, văn bản tố tụng đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Viện kiểm sát gửi cho Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố biết.

 

1.5. Quan hệ phối hợp trong việc giải quyết kiến nghị đối với các trường hợp quyết định không khởi tố vụ án hình sự

 

Điều 8 Thông tư liên tịch số 03 quy định về giải quyết kiến nghị khởi tố đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định khởi tố vụ án hình sự. Theo đó, trường hợp Cơ quan thanh tra đã kiến nghị khởi tố không đồng ý với quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra hoặc quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát thì Cơ quan thanh tra trao đổi với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền để làm rõ lý do; nếu thấy cần thiết thì kiến nghị đến Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp. Nếu Thanh tra Chính phủ kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét, giải quyết; Thanh tra Bộ Quốc phòng kiến nghị thì Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương xem xét, giải quyết.

 

Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được kiến nghị, nếu Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì ra quyết định hủy bỏ quyết định của Viện kiểm sát cấp dưới hoặc yêu cầu Viện kiểm sát cấp dưới ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra cấp dưới; nếu không đồng ý với kiến nghị của Cơ quan thanh tra thì thông báo bằng văn bản nêu rõ lý do. Kết quả giải quyết của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương là quyết định cuối cùng.

 

Có thể thấy rằng, các văn bản pháp luật đã quy định khá đầy đủ về cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm giúp cho các cơ quan này thực hiện việc phối hợp với nhau nhằm tạo sự thống nhất, đúng trình tự, thủ tục và xử lý có hiệu quả những vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Cơ chế phối hợp này cũng ràng buộc trách nhiệm của mỗi cơ quan, việc kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát cũng như góp phần nâng cao trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc phát hiện, củng cố hồ sơ, chứng cứ các vụ việc có dấu hiệu tội phạm trong quá trình tiến hành thanh tra. Bên cạnh đó, việc xây dựng cơ chế phối hợp này cũng đã làm rõ phạm vi, nội dung quan hệ phối hợp nhằm xác định rõ quyền hạn của các bên tham gia vào mối quan hệ phối hợp, góp phần vào việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm được phát hiện trong quá trình tiến hành thanh tra.

 

Thực hiện cơ chế phối hợp nêu trên, trong thời gian qua, đã có nhiều vụ việc có dấu hiệu tội phạm được các cơ quan thanh tra chuyển cho cơ quan điều tra xử lý theo thẩm quyền, góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động thanh tra. Theo báo cáo của ngành Thanh tra, trong giai đoạn từ 01/7/2011 đến 30/6/2017, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 47.449 cuộc thanh tra hành chính và 1.263.311 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 191.929 tỷ đồng và 29.428 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 159.474 tỷ đồng, 14.564 ha đất; đã kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 8.514 tập thể, 33.337 cá nhân; xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 27.333 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 464 vụ, 583 đối tượng; chấn chỉnh quản lý, hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật trên nhiều lĩnh vực[1].

 

 Năm 2018, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 7.166 cuộc thanh tra hành chính và 219.796 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; phát hiện vi phạm về kinh tế 33.839 tỷ đồng, 33.972 ha đất; đã kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 2.076 tập thể và nhiều cá nhân; ban hành 118.596 quyết định xử phạt vi phạm hành chính tổ chức, cá nhân với giá trị 2.965 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra xử lý hình sự 96 vụ, 151 đối tượng[2]. Năm 2019, các cơ quan thanh tra đã chuyển cơ quan điều tra tiếp tục xử lý 94 vụ, 121 đối tượng[3].

 

2. Tồn tại, hạn chế

 

Thứ nhất, cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa tạo sự thống nhất, ràng buộc trách nhiệm trong việc thực hiện phối hợp.

 

Bản chất của mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố là mối quan hệ hành chính, không phải là mối quan hệ tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì là mối quan hệ hành chính nên nó phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của Thủ trưởng cơ quan hành chính, của cán bộ, công chức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Mặc dù được quy định khá chi tiết về quyền, nghĩa vụ và trình tự, thủ tục phối hợp, nhưng trong mối quan hệ với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, vai trò của cơ quan thanh tra hầu như không có sự phân biệt với cơ quan, tổ chức khác.

 

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ đích danh cơ quan thanh tra trong mối quan hệ phối hợp: “Cơ quan thanh tra, kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong việc phát hiện và xử lý tội phạm. Khi phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển ngay các tài liệu, đồ vật có liên quan và kiến nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét, khởi tố vụ án hình sự” (khoản 5, Điều 5).

 

Tuy nhiên, các quy định này cũng chưa tạo ra sự khác biệt về vai trò của cơ quan thanh tra trong hoạt động phòng, chống tội phạm so với cơ quan, tổ chức khác. Hồ sơ và kiến nghị khởi tố của cơ quan thanh tra; trình tự, thủ tục giải quyết kiến nghị cũng tương tự như việc tiếp nhận và giải quyết tin báo tội phạm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chính vì không có sự khác biệt trong mối quan hệ với các cơ quan khác trong việc phát hiện và xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm dẫn tới sự không thống nhất trong việc xác lập mối quan hệ phối hợp. Trong khi cơ quan thanh tra được pháp luật thanh tra, pháp luật về phòng chống tham nhũng quy định có vai trò quan trọng trong phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng cơ chế phối hợp với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chưa tương xứng với tính chất và hoạt động của cơ quan thanh tra – đó là thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng. Cơ chế phối hợp này chưa tạo sự chủ động, ràng buộc trách nhiệm cũng như nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan thanh tra khi thực hiện nhiệm vụ phối hợp.

 

Thứ hai, cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát bị giới hạn bởi nội dung phối hợp. 

 

Cơ chế phối hợp giữa cơ quan thanh tra, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát bị giới hạn bởi nội dung phối hợp – đó là việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan thanh tra kiến nghị khởi tố. Việc phối hợp này chỉ phát sinh khi cơ quan thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tuy nhiên, trên thực tế năng lực phát hiện các vụ việc có dấu hiệu tội phạm nói chung và tham nhũng nói riêng của cơ quan thanh tra còn rất hạn chế, chưa tương xứng với số lượng các cuộc thanh tra tiến hành hàng năm. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có liên quan đến quyền trong hoạt động thanh tra; việc thực hiện các biện pháp nghiệp vụ trong hoạt động thanh tra. Trong khi đó, năng lực phát hiện, điều tra, thu thập chứng cứ là thế mạnh của cơ quan điều tra. Vì vậy, vấn đề đặt ra trong việc thực hiện cơ chế phối hợp giữa hai cơ quan này là việc cần có cơ chế phối hợp ngay từ trong quá trình tiến hành thanh tra nhằm tăng cường khả năng phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm của cơ quan thanh tra, đồng thời hỗ trợ về mặt tài liệu, chứng cứ cho cơ quan điều tra để phục vụ cho công tác điều tra sau này.

 

Thứ ba, quy định của pháp luật về thời điểm chuyển vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra không thống nhất giữa các văn bản pháp luật.

 

Theo quy định tại Nghị định 86/2011/NĐ-CP, trong quá trình thanh tra hoặc khi kết thúc thanh tra, cơ quan thực hiện chức năng thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, người ra quyết định thanh tra phải chuyển hồ sơ vụ việc và bản kiến nghị khởi tố đến cơ quan điều tra để xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo ngay bằng văn bản cho Viện Kiểm sát có thẩm quyền biết.

 

Thông tư liên tịch số 03 quy định, sau khi kết thúc cuộc thanh tra, nếu phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội phạm thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra, Cơ quan thanh tra có văn bản kiến nghị khởi tố và chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền kèm theo hồ sơ, tài liệu có liên quan để xem xét, quyết định việc khởi tố vụ án hình sự; đồng thời, thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.

 

Hai văn bản trên chưa thống nhất về thời điểm phát hiện dấu hiệu tội phạm và thời điểm chuyển hồ sơ vụ việc sang cơ quan điều tra. Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định trong quá trình thanh tra hoặc sau khi kết thúc thanh tra; trong khi Thông tư liên tịch số 03 quy định sau khi kết thúc cuộc thanh tra... Bên cạnh đó, Nghị định 86/2011/NĐ-CP quy định trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm; Thông tư liên tịch số 03 quy định, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ký kết luận thanh tra… Quy định nêu trên không thống dẫn đến khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện.

 

3. Kiến nghị

 

3.1. Nghiên cứu cơ sở khoa học để quy định quyền khởi tố điều tra ban đầu cho cơ quan thanh tra

 

Qua nghiên cứu chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan hải quan, kiểm lâm, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển cho thấy, trong quá trình thực thi nhiệm vụ, các cơ quan này được giao nhiệm vụ, quyền hạn tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự. Các cơ quan này được trao quyền khởi tố vụ án, tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu (khám nghiệm hiện trường, khám xét, lấy lời khai, thu giữ, tạm giữ và bảo quản vật chứng, tài liệu liên quan trực tiếp đến vụ án, trưng cầu giám định khi cần thiết, khởi tố bị can...). Việc các cơ quan này được trao quyền khởi tố, điều tra ban đầu xuất phát từ những lý do cơ bản sau đây:

 

- Địa hình phát hiện các vụ việc phạm tội ở biên giới, hải đảo.

 

- Hành vi phạm tội rõ ràng, có thể nhận biết ngay đã thỏa mãn các yếu tố của cấu thành tội phạm hay không. Ví dụ đối với hành vi buôn lậu, có thể nhận biết chủ thể thực hiện hành vi khách quan (mang hàng hóa qua biên giới và không có giấy tờ hợp pháp nhằm trốn thuế) là có thể bắt giữ, khởi tố vụ án hình sự và điều tra ban đầu.

 

- Việc khởi tố vụ án hình sự nhằm ngăn chặn ngay hành vi phạm tội của các đối tượng phạm tội, giúp cơ quan có thẩm quyền tạm giữ người, tang vật của vụ án, khám xét người và lấy lời khai ban đầu phục vụ quá trình điều tra vụ án của cơ quan điều tra.

 

So sánh với tính chất, nhiệm vụ của cơ quan thanh tra thì cho thấy có những nét tương đồng với các cơ quan nêu trên, nhất là với tính chất và hoạt động của thanh tra chuyên ngành (ví dụ như hoạt động thanh tra chuyên ngành tài nguyên và môi trường; vệ sinh an toàn thực phẩm…) có thể nhận biết các dấu hiệu cấu thành tội phạm và cần khởi tố vụ án hình sự nhằm ngặn chặn hành vi phạm tội. Ngoài ra, đối với hoạt động thanh tra hành chính thì hoạt động thanh tra kinh tế - xã hội cũng có thể áp dụng thẩm quyền này khi tiến hành thanh tra. Bởi vì dấu hiệu tội phạm của một số tội (cố ý làm trái gây hậu quả nghiêm trọng; thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiệm trọng…) dễ nhận biết và cần khởi tố để ngăn chặn hành vi phạm tội. Mặc dù để được trao quyền khởi tố điều tra ban đầu cần phải tiến hành nghiên cứu toàn diện về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ với các cơ quan có thẩm quyền… của cơ quan thanh tra mới có thể đưa ra được kiến nghị chính xác, khoa học, song qua nghiên cứu bước đầu cho thấy đây là thẩm quyền quan trọng, phù hợp với tính chất, hoạt động của cơ quan thanh tra.

 

Việc trao thẩm quyền khởi tố điều tra ban đầu sẽ giúp nâng cao vị thế của cơ quan thanh tra trong mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Bởi khi đó, mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan này là mối quan hệ tố tụng, được điều chỉnh bởi Bộ luật Tố tụng hình sự và thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi bên trong mối quan hệ này được quy định đầy đủ và có nhiều sự ràng buộc chặt chẽ. Việc trao thẩm quyền này cũng sẽ giúp cơ quan thanh tra thực hiện tốt hơn công tác quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng, mà một trong nhiệm vụ của công tác này là phát hiện tham nhũng – được thực hiện thông qua chức năng thanh tra.

 

3.2. Chủ động phối hợp với cơ quan điều tra khi tiến hành thanh tra những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp

 

Tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII, ngày 24/6/2014 Quốc hội đã ra Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn, Nghị quyết đã chỉ rõ: “Cơ quan thanh tra phải phối hợp chặt chẽ với các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, kiểm toán nhà nước trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đối với những vụ việc có dấu hiệu tội phạm phải chuyển ngay đến cơ quan có trách nhiệm để thực hiện việc điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật”[4].

 

Khi thanh tra những vụ việc có dấu hiệu tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, hoặc những vụ việc thanh tra nhằm giải quyết đơn thư tố cáo, thanh tra đột xuất theo chỉ đạo của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước thì cơ quan thanh tra cần chủ động phối hợp với cơ quan điều tra ngay từ ban đầu. Cụ thể, trong thành phần Đoàn thanh tra, cần có cán bộ làm công tác điều tra tham gia để tạo thuận lợi hơn cho việc xử lý vụ việc sau khi được chuyển cho cơ quan điều tra. Việc có cán bộ điều tra tham gia Đoàn thanh tra sẽ hỗ trợ các biện pháp nghiệp vụ nhằm giúp cho Đoàn thanh tra thu thập đầy đủ thông tin, tài liệu, chứng cứ, xác định rõ hơn các dấu hiệu tội phạm của đối tượng thanh tra, từ đó có những đánh giá, kết luận cụ thể, rõ ràng trong kết luận thanh tra. Ngoài ra, cơ quan điều tra khi tiếp nhận hồ sơ vụ việc cũng không mất nhiều thời gian để củng cố hồ sơ, chứng cứ, qua đó rút ngắn thời gian điều tra, đồng thời tạo sự đồng thuận giữa hai cơ quan trong việc xác định tính chất, mức độ vi phạm, giảm thiểu nguy cơ tiêu cực trong quá trình xử lý vụ việc.

 

3.3. Sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về thanh tra nhằm bảo đảm sự thống nhất trong thực hiện mối quan hệ phối hợp.

 

Theo đó, cần sửa đổi, bổ sung Nghị định 86/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra 2010 về thời điểm chuyển hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra thống nhất với quy định tại Thông tư liên tịch số 03 bảo đảm thống nhất, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc thực hiện mối quan hệ phối hợp.

 

ThS. Lê Văn Đức

Phó trưởng phòng TT-TL-TV

Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra



[1] Báo cáo tổng kết 06 năm thi hành Luật Thanh tra 2010.

[2] Báo cáo tổng kết công tác năm 2018 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2019 của ngành Thanh tra.

[3] Báo cáo tổng kết công tác năm 2019 và phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu năm 2020 của ngành Thanh tra.

[4] Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ hợp thứ 7 Quốc Hội khóa XIII.

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: