Công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập - Một số vấn đề đặt ra    
Cập nhật: 28/10/2020 09:20
Xem lịch sử tin bài

Công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai là một trong những biện pháp hữu hiệu để minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, tiến tới kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nhằm phòng, chống tham nhũng. Mục đích của tham nhũng chủ yếu là tài sản, một trong những biện pháp hiệu quả là giám sát quá trình tích tụ tài sản của người có hành vi tham nhũng và muốn kiểm soát có hiệu quả, trước tiên cần phải công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập.

Vì vậy, công khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản, thu nhập là một trong những biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập quan trọng, góp phần phòng ngừa tham nhũng.

 

Mục đính công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai là để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền biết rõ tài sản, thu nhập và qua đó nắm được tình trạng và sự biến động tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng ngừa tham nhũng, phục vụ công tác cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, thu hồi tài sản tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản.

 

Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, trang 456), “công khai” nghĩa là “không giấu giếm, bí mật mà cho mọi người cùng biết”. Tài sản, thu nhập thuộc về bí mật đời tư của mỗi cá nhân được pháp luật bảo vệ nên việc công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai phải bằng những hình thức được pháp luật quy định.

 

Từ những luận giải trên, có thể quan niệm công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai như sau: Công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền công bố đầy đủ thông tin về các loại tài sản, thu nhập; biến động tài sản, thu nhập phải kê khai; nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm trong Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo quy định của pháp luật.

 

Xác định được vai trò quan trọng của công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai trong việc kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhằm từng bước thực hiện minh bạch hóa tài sản, thu nhập, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản như: Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 03/01/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc kê khai và kiểm soát việc kê khai tài sản; Kết luận Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI); Luật Phòng, chống tham nhũng số 55/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số Điều theo Luật số 01/2007/QH12 và Luật số 27/2012/QH13; Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 09/3/2007 của Chính phủ; Nghị định số 68/2011/NĐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP ngày 03/7/2007 của Thanh tra Chính phủ và Thông tư số 01/2010/TT-TTCP ngày 22/4/2010 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Thông tư số 2442/2007/TT-TTCP về xác định rõ đối tượng phải kê khai tài sản; Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập; Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập; Quy định số 85-QĐ/TW ngày 23-5-2017 của Bộ Chính trị ban hành Quy định về kiểm tra, giám sát việc kê khai tài sản của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý … Và đặc biệt là Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019. Những văn bản này đã từng bước tạo hành lang pháp lý khá toàn diện về kiểm soát tài sản, thu nhập nói chung và công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nói riêng.

 

“Điều 46a, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012 quy định về công khai Bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai được thực hiện như sau: 1. Bản kê khai tài sản của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai trong cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Người có thẩm quyền quản lý cán bộ, công chức, viên chức quyết định việc công khai bằng hình thức công bố tại cuộc họp hoặc niêm yết bản kê khai tại trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Thời điểm công khai được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 3 hằng năm. Trường hợp công khai bằng hình thức niêm yết thì phải bảo đảm thời gian tối thiểu là ba mươi ngày liên tục;

 

 Điều 7 Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập quy định như sau: Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải công khai với toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc; trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có quy mô lớn, phân tán thì công khai như quy định tại Điều 9, Điều 10 Thông tư 08/2013/TT-TTCP. Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ngoài việc công khai tại nơi thường xuyên làm việc còn phải công khai tại hội nghị cử tri theo quy định của Hội đồng bầu cử. Bản kê khai của người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân tại kỳ họp theo quy định của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân. Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai là đại diện phần vốn của Nhà nước, của doanh nghiệp nhà nước và giữ chức danh từ Phó trưởng phòng và tương đương trở lên trong doanh nghiệp có vốn góp của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước thì công khai tại cơ quan, doanh nghiệp người đó làm đại diện.

 

Từ những quy định tại Điều 46a Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012, Điều 7 Thông tư số 08/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ hướng dẫn thi hành các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập, có thể thấy việc công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn hiện nay mới chỉ được giới hạn ở phạm vi hẹp, trong nội bộ cơ quan, đơn vị, mà chưa mở rộng việc công khai đến người dân theo tinh thần của Kết luận Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đó là “thực hiện việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập ở nơi công tác và nơi cư trú. Từng bước mở rộng diện kê khai và phạm vi công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”. Hình thức công khai mang tính chất nội bộ theo quy định hiện nay được luận giải bởi nhiều nguyên nhân, như: Nguyên nhân về việc thiếu cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật chưa được trang bị hiện đại một cách đồng bộ tại các địa phương, nhân lực phụ trách vấn đề công khai chưa được chuẩn bị đầy đủ... Do vậy, giống như quy định tại Nghị định 68/2011/NĐ-CP, Nghị định 78/2013/NĐ-CP mới chỉ quy định việc công khai trong phạm vi nội bộ (niêm yết tại trụ sở cơ quan và công khai tại cuộc họp) nhằm đáp ứng các điều kiện hiện hành.

 

Đến Điều 39 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 về công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập thì những người phải kê khai tại Khoản 1 chỉ quy định một hình thức bắt buộc là công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc, cụ thể như sau: Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị phải được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm. Bản kê khai của người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân phải được công khai theo quy định của pháp luật về bầu cử. Bản kê khai của người dự kiến bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân phải được công khai với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân trước khi bầu, phê chuẩn. Thời điểm, hình thức công khai được thực hiện theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bản kê khai của người dự kiến bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước được công khai tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm khi tiến hành bổ nhiệm hoặc tại cuộc họp của Hội đồng thành viên khi tiến hành bầu các chức vụ lãnh đạo, quản lý.

 

Mặc dù, quy định của pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai trong thời gian qua ngày càng được hoàn thiện nhưng công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai vẫn chưa đạt được mục đích và sự kỳ vọng của xã hội. Công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập vẫn còn rất hình thức và vẫn chưa chặt chẽ, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện. Việc công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập ở nơi công tác, trong chi bộ, trong cấp ủy nhiều nơi chưa thực hiện nghiêm túc; chưa thể chế hóa được việc công khai ở nơi cư trú như yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); trình tự, thủ tục cụ thể tiến hành việc công khai Bản kê khai cũng như tiếp nhận các thông tin, phản ánh về Bản kê khai tài sản, thu nhập chưa được quy định cụ thể... Luật Phòng chống tham nhũng hiện hành quy định Bản kê khai của người có nghĩa vụ kê khai phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc, thực hiện quy định trên, cơ quan, đơn vị thực hiện công khai Bản kê khai tải sản, thu nhập bằng hình thức niêm yết Bản kê khai gốc lên bảng và đặt ở vị trí trung tâm ở của cơ quan, nơi có nhiều người qua lại. Việc công khai rất đúng quy định, nhưng vì tế nhị, nể nang và nhiều lý do khác nên rất ít người trong cơ quan dừng lại để đọc. Nhưng ngược lại, do đặt ở vị trí trung tâm nên người ngoài cơ quan, đơn vị khi đến tham quan, làm việc, liên hệ công tác… có thể đọc được, thậm chí chụp ảnh và làm lọt thông tin trong Bản kê khai. Như vậy, việc công khai rất hình thức nhưng nguy cơ bị lọt thông tin từ Bản kê khai tài sản, thu nhập ra ngoài cơ quan là khó tránh khỏi.

 

Trước mắt, để tránh nguy cơ bị lọt thông tin từ Bản kê khai tài sản, thu nhập ra ngoài cơ quan, pháp luật cần có quy định cá nhân trong cơ quan chỉ được phép đọc trực tiếp, cấm thực hiện việc copy, chụp ảnh bản kê khai; nghiêm cấm tổ chức, cá nhân ngoài cơ quan tiếp cận Bản kê khai tài sản, thu nhập. Người được giao quản bản lý kê khai tài sản, thu nhập chịu trách nhiệm giám sát quy định này. Trường hợp người có nghĩa vụ kê khai, người thân của người có nghĩa vụ kê khai bị mất tài sản, bị ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng mà kết quả điều tra nguyên nhân bắt nguồn từ việc bị lọt thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập thì căn cứ vào hậu quả xảy ra mà người làm lọt thông tin sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

 Về lâu dài, cần phải công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai tại nơi làm việc, nơi cư trú và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bởi vì:

 

Về chủ trương, trong bối cảnh hiện nay đã có quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với việc minh bạch tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức nói chung và công khai Bản kê khai nói riêng. Việc hoàn thiện các quy định về kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đã được đề cập đến trong nhiều văn kiện của Đảng. Cụ thể: Nghị quyết Hội nghị lần III của BCH TW Đảng Khoá X về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí" đã chỉ rõ “cần tiếp tục hoàn thiện công tác cán bộ phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Trong đó, cần phải “bảo đảm minh bạch tài sản, thu nhập của đảng viên, cán bộ, công chức: Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản và xác minh bản kê khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng. Trong Đảng, xây dựng và thực hiện cơ chế đảng viên là cán bộ, công chức thuộc diện kê khai tài sản theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng, phải công khai trong chi bộ bản kê khai, là cấp ủy viên thì còn phải công khai trong cấp ủy; phải giải trình nguồn gốc tài sản của mình theo yêu cầu của tổ chức đảng có thầm quyền; trường hợp không giải trình được một cách minh bạch, hợp lý thì bị xem xét kỷ luật về Đảng, chính quyền, đoàn thể. Tiến tới tất cả đảng viên là cán bộ, công chức đều phải kê khai tài sản, công bố trong chi bộ, cấp ủy và giải trình nguồn gốc khi có yêu cầu”. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay cũng nhấn mạnh nhiệm vụ “thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản theo quy định của Đảng và Nhà nước. Kê khai tài sản phải trung thực và được công khai ở nơi công tác và nơi cư trú”. Nhiệm vụ này tiếp tục được quy định trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/5/2012 của Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí yêu cầu phải “Sửa đổi các văn bản liên quan để thực hiện việc công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập ở nơi công tác và nơi cư trú, theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Từng bước mở rộng diện kê khai và phạm vi công khai kết quả kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Quy định về trách nhiệm giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X). Quy định cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức chủ động kiểm tra, xác minh kết quả kê khai tài sản, thu nhập đối với những người thuộc quyền quản lý”.

 

Về thực tiễn,  quy định về công khai có tính chất nội bộ khép kín như hiện nay chưa phát huy tác dụng của việc kê khai tài sản. Việc công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai tại nơi làm việc, nơi cư trú và trên các phương tiện thông tin đại chúng cho phép hệ thống kê khai, kiểm soát tài sản, thu nhập tranh thủ sự tham gia của tổ chức xã hội trong giám sát tài sản, thu nhập. Vì việc công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai có tác dụng rất lớn trong việc giám sát của dân chúng đối với tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Trong nhiều trường hợp, chính người dân và báo chí là những nơi phát hiện, phản ánh đầy đủ những thông tin liên quan đến tài sản, thu nhập ngoài tài sản, thu nhập đã kê khai của cán bộ, công chức, tài sản tăng thêm mà không thể giải thích được của cán bộ, công chức. Đây là một kênh giám sát hiệu quả trong phòng ngừa, phát hiện tham nhũng, song để hoạt động hiệu quả thì cũng cần có cơ chế thúc đẩy và xử lý những bất cập phát sinh. Bởi vì, tài sản, thu nhập thuộc về bí mật đời tư của mỗi cá nhân, việc công khai rộng rãi có thể xâm phạm bí mật đời tư, dẫn đến xâm phạm quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp quy định và bảo vệ; đồng thời có thể gây khó khăn cho việc bảo đảm an toàn cho người có tài sản.  

 

Hiện nay, trên nhiều diễn đàn đã có nhiều tranh luận ở một số nước về việc cho công chúng tiếp cận thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai là biện pháp quan trọng để kiểm soát tài sản, thu nhập nhưng vẫn còn có những quan ngại về quyền riêng tư của người có nghĩa vụ kê khai. Vì vậy, công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai đối mặt với vấn đề phải cân đối giữa một bên là cho phép công chúng giám sát nhằm tạo điều kiện phòng, chống tham nhũng và một bên là bảo vệ quyền riêng tư của những người phải kê khai tài sản.

 

Thiết nghĩ, để giải quyết hài hoà bài toán vừa công khai để thuận tiện cho công luận, nhân dân theo dõi, giám sát, vừa bảo đảm an toàn tài sản, bảo đảm bí mật đời tư của người phải kê khai, thì một mặt Bản kê khai tài sản, thu nhập của người kê khai, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được công khai trên các phương tiện truyền thông đại chúng; cổng thông tin điện tử; niêm yết tại trụ sở cơ quan, đơn vị; thông qua họp báo, hội nghị, hội thảo, sinh hoạt chi bộ; thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội; gửi văn bản hoặc bằng các hình thức khác. Tuy nhiên, công khai đến đâu, công khai như thế nào là vấn đề cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo. Khi công khai, cần lược bỏ thông tin đời tư cá nhân trong Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai. Nghiêm cấm người làm công tác kiểm soát tài sản, thu nhập tiết lộ thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ra bên ngoài. Chỉ có người phụ trách công việc kiểm soát tài sản, thu nhập mới được biết thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập nhưng không phải biết toàn bộ thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập. Ví dụ, cán bộ phụ trách tài sản thì chỉ được truy cập vào mục tài sản; cán bộ phụ trách thu nhập thì chỉ được truy cập vào mục thu nhập; cán bộ phụ trách thuế thì chỉ được truy cập vào mục thuế. Trường hợp giải trình, đối chất về thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập thì liên quan đến mảng nào thì chỉ người phụ trách mảng đó đối chất với người có nghĩa vụ kê khai…

 

Mặt khác, cần thiết lập một cơ chế cung cấp thông tin về Bản kê khai tài sản một cách có điều kiện và kiểm soát việc sử dụng thông tin đó, ví dụ như người không có chức năng về kiểm soát tài sản, thu nhập mà yêu cầu cung cấp thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập người có nghĩa vụ kê khai phải có nhân thân rõ ràng, cam kết không để lộ, lọt thông tin từ Bản kê khai tài sản, thu nhập ra ngoài, phải trả một mức phí nhất định. Quy định chặt vấn đề này để tránh bị lợi dụng, gây phương hại đến người kê khai. Đặt ra một số điều kiện trong việc bảo lưu những thông tin này, tránh nguy cơ gây ra những mặt trái của việc công khai, ví dụ như: Lợi dụng thông tin trong Bản kê khai tài sản, thu nhập để tố cáo sai, uy hiếp cán bộ, đe dọa đến an toàn cá nhân, an toàn về tài sản của người kê khai…

 

                                             Lê Đức Trung, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra

 

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: