Đề xuất bộ chuẩn mực tiếp công dân    
Cập nhật: 02/11/2020 08:50
Xem lịch sử tin bài

Pháp luật tiếp công dân quy định về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; quy định về tiếp công dân tại các cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Ban Tiếp công dân, việc bố trí cơ sở vật chất của Trụ sở tiếp công dân; quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân; việc bố trí cơ sở vật chất của địa điểm tiếp công dân; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân; việc tiếp công dân được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị; việc tiếp công dân phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên trên thực tế, ngoài các quy định của pháp luật tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân cần phải trang bị cho mình các “kỹ năng mềm” về quy tắc ứng xử, phương pháp tiếp cận, kỹ năng xử lý tính huống trong hoạt động tiếp công dân như: văn hóa ứng xử trong hoạt động tiếp công dân; quy tắc về đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động tiếp công dân; phương pháp, kỹ năng xử lý các tình huống, các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động tiếp công dân; cơ sở khoa học để kiểm tra, đánh giá chất lượng tiếp công dân... Như vậy, pháp luật tiếp công dân hiện nay cần thiết phải bổ sung thêm “Bộ chuẩn mực tiếp công dân” để trang bị đầy đủ cho cán bộ tiếp công dân có thêm các “kỹ năng mềm”, các tiêu chí đánh giá, các quy tắc ứng xử nghề nghiệp để phục vụ công tác tiếp dân được chất lượng và hiệu quả. Cán bộ tiếp công dân có thêm quy tắc, văn hóa ứng xử và các phương pháp xử lý các tình huống, các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động tiếp công dân; có thêm công cụ kiểm tra, đánh giá chất lượng công tác tiếp công dân; làm cơ sở khoa học cho cán bộ tiếp công dân có thói quen tiếp công dân chuyên nghiệp, chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật; làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ tiếp công dân để khen thưởng, xử lý trách nhiệm được kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tiếp công dân; làm nền tảng cho cán bộ tiếp công dân đáp ứng tiếp công dân trong thời đại Công nghiệp 4.0.

 

Từ các lý do này, tác giả đề xuất “Bộ chuẩn mực tiếp công dân” gồm 57 điều và chia thành 02 chương: Chương 1 “Quy định chung và quy tắc về liêm chính, độc lập khách quan trong hoạt động tiếp công dân”; Chương 2 “Quy tắc về năng lực, trình độ và kỹ năng giao tiếp trong hoạt động tiếp công dân”. Nội dung bộ chuẩn mực như sau:

 

BỘ CHUẨN MỰC TIẾP CÔNG DÂN

 

Chương 1. Quy định chung và quy tắc về liêm chính, độc lập khách quan trong hoạt động tiếp công dân

 

1. Quy định chung

 

Điều 1. Bộ chuẩn mực này quy định toàn diện về các nguyên tắc hướng dẫn đạo đức nghề nghiệp và quy tắc ứng xử của cán bộ tiếp công dân. Quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiếp công dân đặt ra yêu cầu cao về đạo đức nghề nghiệp đối với cán bộ tiếp công dân và các tổ chức, cá nhân khác tham gia vào hoạt động tiếp công dân; những quy định về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tiếp công dân được xây dựng phù hợp với những quy định, yêu cầu chung về đạo đức và đặc thù nghề nghiệp đối với cán bộ trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 2. Xây dựng và ban hành Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp áp dụng cho các cán bộ tiếp công dân là một yêu cầu quan trọng, là điều kiện đảm bảo cho các cơ quan tiếp công dân hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn.

 

Điều 3. Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp tiếp công dân được xây dựng trên cơ sở pháp luật tiếp công dân và các quy định về đạo đức nghề nghiệp tiếp công dân; quy định về nguyên tắc đảm bảo trong quản lý cán bộ tiếp công dân. Bộ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp sẽ đóng góp vai trò quan trọng trong việc định hướng, xây dựng các bộ chuẩn mực tiếp theo trong hệ thống chuẩn mực tiếp công dân của ngành Thanh tra.

 

Điều 4. Đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tiếp công dân là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo uy tín của ngành Thanh tra. Bất kỳ sự vi phạm nào về tư cách đạo đức nghề nghiệp hay bất kỳ một thái độ cư xử chưa thỏa đáng nào trong hoạt động tiếp công dân đối với cán bộ tiếp công dân cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tính liêm chính, chất lượng và hiệu lực, hiệu quả của hoạt động tiếp công dân; ảnh hưởng đến uy tín và niềm tin của xã hội đối với ngành Thanh tra. Việc chấp hành và áp dụng những quy định về đạo đức nghề nghiệp đối với các cán bộ tiếp công dân sẽ làm tăng uy tín, độ tin cậy của xã hội đối với hoạt động tiếp công dân của ngành thanh tra.

 

Điều 5. Cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm tăng cường, củng cố uy tín và độ tin cậy của mình và của các cơ quan tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân thông qua việc chấp hành và tuân thủ các yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp với quy tắc “Liêm chính, Khách quan, Công bằng, Uy tín và Tin cậy”.

 

Điều 6. Cán bộ tiếp công dân phải có ý thức tự giác xây dựng và thúc đẩy mối quan hệ hợp tác đối với đồng nghiệp trong hoạt động tiếp công dân. Những hỗ trợ về chuyên môn nghề nghiệp và sự phối hợp đồng nghiệp là những yếu tố quan trọng trong hoạt động tiếp công dân. Sự tôn trọng và tin tưởng của công dân đối với các cán bộ tiếp công dân chính là kết quả đánh giá về chất lượng trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 7. Cán bộ tiếp công dân trong thực hiện nhiệm vụ công vụ phải đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, khách quan. Mọi hoạt động tiếp công dân đều phải tuân thủ, chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật và quy định của chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp tiếp công dân; chịu sự kiểm tra, kiểm soát, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; chịu sự đánh giá từ công dân thông qua việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

 

Điều 8. Duy trì tính liêm chính, khách quan, công bằng của cán bộ tiếp công dân nhằm đảm bảo các công việc trong hoạt động tiếp công dân được đúng quy định của pháp luật tiếp công dân, đồng thời phải hợp tình, hợp lý với thực tiễn hoạt động.

 

Điều 9. Quy định về trình độ, năng lực và các kỹ năng chuyên môn của cán bộ tiếp công dân nhằm đảm bảo khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ công vụ trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 10. Quy định về đạo đức nghề nghiệp và bảo mật thông tin trong hoạt động tiếp công dân nhằm bảo đảm sự chính xác, khách quan, công bằng của các kết quả tiếp công dân; đảm bảo thực hiện dúng quy định của pháp luật về trách nhiệm bảo mật (đặc biệt là đơn tố cáo) trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 11. Quy định về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm và phát triển nghề nghiệp để không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tiếp công dân, đồng thời đảm bảo chất lượng hoạt động tiếp công dân được chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật.

Điều 12. Chuẩn mực được áp dụng trong mọi hoạt động tiếp công dân và các công việc liên quan đến hoạt động tiếp công dân cho cán bộ tiếp công dân; cho từng giai đoạn hoạt động tiếp công dân; cho toàn bộ hoạt động tác nghiệp tiếp công dân.

 

Điều 13. Chuẩn mực áp dụng trong công tác tuyển dụng, đào tạo, phân công công tác, điều động, bổ nhiệm, phát triển nghề nghiệp cho cán bộ tiếp công dân theo vị trí việc làm; áp dụng về đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ tiếp công dân cho cán bộ tiếp công dân; áp dụng trong việc xây dựng các tiêu chuẩn nghiệp vụ cho từng ngạch (bậc) tiếp công dân.

 

Điều 14. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân được tuyển dụng hoặc được yêu cầu tham gia vào hoạt động tiếp công dân có nghĩa vụ tự nghiên cứu chuẩn mực để đạt được sự am hiểu nhất định về quy tắc đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 15. Cán bộ tiếp công dân phải tuân thủ và có trách nhiệm hướng dẫn Chuẩn mực này cho các đối tượng liên quan trong hoạt động tiếp công dân. Đơn vị được tiếp công dân và các bên liên quan phải hiểu biết và sử dụng thành thục Chuẩn mực; phải có trách nhiệm phối hợp với nhau thực hiện đồng bộ Chuẩn mực giữa các Cơ quan trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 16. Các thuật ngữ sử dụng trong Chuẩn mực tiếp công dân này được định nghĩa như trong pháp luật tiếp công dân và các quy định tiếp công dân liên quan do các cơ quan tiếp công dân có thẩm quyền ban hành.

 

2. Liêm chính trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 17. Liêm chính là giá trị cốt lõi của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Cán bộ tiếp công dân có nghĩa vụ, trách nhiệm tuân thủ triệt để các quy định, yêu cầu của Chuẩn mực về giao tiếp, ứng xử và mối quan hệ trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 18. Trong hoạt động tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân phải công minh, chính trực, thẳng thắn, trung thực và có quan điểm rõ ràng; công bằng, tôn trọng sự thật, không thành kiến và thiên vị.

 

Điều 19. Cán bộ tiếp công dân phải coi trọng cả hình thức, nội dung của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp; coi trọng các nguyên tắc về độc lập khách quan, công bằng và tính chuyên nghiệp; coi trọng sự tham gia góp ý của người dân và xã hội trước khi đưa ra các quyết định; phải trung thực tuyệt đối khi thực hiện nhiệm vụ công vụ cũng như nguyên tắc hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 20. Cán bộ tiếp công dân phải trong sáng, gương mẫu, không được nhận tiền, quà biếu và tránh các mối quan hệ xã hội có thể dẫn đến làm sai lệch bản chất vụ việc trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 21. Trong hoạt động tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân phải xem xét tất cả các yếu tố liên quan và các yếu tố trọng yếu để hướng dẫn, giải thích cho công dân hiểu đầy đủ về quyền, nghĩa vụ, lợi ích hợp pháp cho công dân; phải đảm bảo tất cả các bằng chứng, chứng cứ thu thập, các ý kiến đánh giá trong hoạt động tiếp công dân được chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật.

 

Điều 22. Cán bộ tiếp công dân phải đưa ra các ý kiến, quan điểm của minh trong quá trình tiếp công dân; phải bảo vệ ý kiến của mình dựa trên các bằng chứng, chứng cứ pháp lý, những lập luận đúng đắn, khách quan và không chịu tác động bởi sự can thiệp từ bên ngoài.

 

Điều 23. Cán bộ tiếp công dân phải có thái độ ứng xử đúng mực, không được có hành vi sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho công dân đến khiếu lại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

 

3. Độc lập, khách quan trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 24. Cán bộ tiếp công dân phải thật sự độc lập, khách quan, không bị chi phối, tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất nào khi đưa ra ý kiến và quản điểm của mình trong hoạt động tiếp công dân; độc lập, khách quan, không bị chi phối không đúng của lãnh đạo cấp trên; không chịu sự chi phối của các nhóm lợi ích bên ngoài khác là nguyên tắc cần thiết đối với cán bộ tiếp công dân. Cán bộ tiếp công dân phải khách quan trong việc xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh trong hoạt động tiếp công dân. Sự độc lập, trung thực và không thiên vị không chỉ biểu hiện hình thức bên ngoài mà phải đảm bảo độc lập trong mọi hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 25. Khi tiến hành tiếp công dân, cán bộ tiếp công dân phải tuân thủ pháp luật tiếp công dân; tuân thủ chuẩn mực, quy trình, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ tiếp công dân; tuân thủ các quy định khác liên quan đến hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 26. Cán bộ tiếp công dân phải báo cáo với người chịu trách nhiệm quản lý hoạt động tiếp công dân về bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài có thể làm thay đổi kết quả giải quyết và ảnh hưởng trực tiếp đến tính khách quan, trung thực trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 27. Cán bộ tiếp công dân được giao vụ việc phức tạp thì cần phải xem xét, đánh giá độc lập, khách quan, đúng pháp luật; nếu xét thấy kết quả đó không độc lập, khách quan thì cán bộ tiếp công dân phải có trách nhiệm chuyển vụ việc đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định, không được thờ ơ bỏ sót vụ việc để công dân bị oan sai.

 

Điều 28. Cán bộ tiếp công dân phải báo cáo người có thẩm quyền để không tham gia tiếp công dân đối với vụ việc có quan hệ kinh tế, gia đình với mình mà bị cấm theo quy định của pháp luật.

 

Điều 29. Cán bộ tiếp công dân có nghĩa vụ và trách nhiệm phải tự kiểm soát bản thân để không dính líu vào những vấn đề liên quan mà mình có lợi ích, làm ảnh hưởng đến kết quả tiếp công dân. Trong quá trình tiếp công dân, nếu có sự hạn chế về tính độc lập, khách quan thì cần phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này; nếu không thể loại bỏ được thì phải báo cáo kịp thời cho người có thẩm quyền quyết định.

 

Điều 30. Tính độc lập được thể hiện trong các tình huống có nguy cơ bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cán bộ tiếp công dân trong hoạt động tiếp công dân về tư lợi, mối quan hệ gia đình, người thân; ảnh hưởng đến sự đe dọa, trả thù, trù dập; ảnh hưởng lợi ích kinh tế (trực tiếp hoặc gián tiếp); ảnh hưởng đến mối quan hệ công việc liên quan đến hoạt động tiếp công dân; ảnh hưởng đến đối tượng có quan hệ với công dân khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị là bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố chồng, mẹ chồng, bố vợ, mẹ vợ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột.

 

Điều 31. Cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm giữ gìn tính độc lập bằng việc xem xét bản chất các nguy cơ có ảnh hưởng đến tính độc lập; áp dụng các biện pháp bảo vệ để loại bỏ hoặc làm giảm các nguy cơ xuống mức thấp nhất có thể. Cán bộ tiếp công dân có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ: Sử dụng các biện pháp bảo vệ do pháp luật và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp quy định; tạo ra môi trường làm việc và các biện pháp, kỹ thuật cụ thể nhằm loại bỏ các nguy cơ ảnh hưởng đến tính độc lập.

 

Chương 2. Quy tắc về năng lực, trình độ và kỹ năng giao tiếp trong hoạt động tiếp công dân

 

4. Năng lực, trình độ trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 32. Cán bộ tiếp công dân có nghĩa vụ thực hiện nhiệm vụ công vụ một cách chuyên nghiệp; tuân thủ pháp luật và các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động tiếp công dân nhằm đảm bảo chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật.

 

Điều 33. Cán bộ tiếp công dân phải có trình độ, năng lực chuyên môn cần thiết theo quy định để đáp ứng nhiệm vụ tiếp công dân được phân công.

 

Điều 34. Cán bộ tiếp công dân phải có sự am hiểu về Hiến pháp, pháp luật, các nguyên tắc, các chuẩn mực để điều chỉnh tác nghiệp tiếp công dân của mình phù hợp với quy định của pháp luật; cần phải hiểu rõ các quy định về quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân; về quản lý kinh tế, xã hội, chính sách, pháp luật liên quan đến tiếp công dân trên mọi lĩnh vực.

 

Điều 35. Cán bộ tiếp công dân phải hiểu rõ và đầy đủ về pháp luật tiếp công dân; hiểu và tuân thủ các chuẩn mực, quy trình, hướng dẫn thực hành và yêu cầu của nhiệm vụ tiếp công dân.

 

Điều 36. Cán bộ tiếp công dân phải đư­ợc đào tạo, bồi dưỡng theo quy định của pháp luật tiếp công dân; đào tạo, bồi dưỡng theo các tiêu chuẩn phù hợp với ngạch (bậc) tiếp công dân (ngạch thanh tra) theo quy định của pháp luật tiếp công dân và các quy định của pháp luật liên quan.

 

5. Kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 37. Cán bộ tiếp công dân phải có đầy đủ các kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp trong tiếp công dân thường xuyên, đột xuất và định kỳ; có khả năng vận dụng các kỹ năng chuyên môn phù hợp với sự đa dạng, phức tạp, nhất là những vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, đông người.

 

Điều 38. Cán bộ tiếp công dân phải có kỹ năng lập chương trình, kế hoạch tiếp công dân rõ ràng, đúng pháp luật; có kỹ năng thu thập, phân tích thông tin, bằng chứng liên quan đến các vụ việc tiếp công dân để đưa ra quyết định chính xác, đúng pháp luật; có kỹ năng xử lý mềm dẻo những ý kiến xung đột, trái chiều trong hoạt động tiếp công dân; có kỹ năng lập lịch tiếp công dân phù hợp với tình hình cụ thể để giảm bớt thời gian công dân phải đi lại nhiều lần.

 

Điều 39. Cán bộ tiếp công dân phải thực hiện thành thạo các ph­ương pháp, nghiệp vụ tiếp công dân; có khả năng sử dụng tốt các phư­ơng tiện công nghệ hiện đại trong hoạt động tiếp công dân; sử dụng thành thạo phần mềm tiếp công dân; phương pháp thu thập thông tin cần thiết liên quan đến nội dung tiếp công dân.

 

Điều 40. Cán bộ tiếp công dân phải thường xuyên cập nhật, bổ sung trình độ chuyên môn để đáp ứng yêu cầu pháp lý và hoạt động thực tiễn trong hoạt động tiếp công dân; thường xuyên cập nhật những tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên tiến đáp ứng yêu cầu Công nghiệp 4.0 hiện nay; thường xuyên học hỏi, nâng cao trình độ về kỹ năng giao tiếp, ứng xử, hiểu biết xã hội và văn hóa ứng xử để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

 

6. Thận trọng, chính xác trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 41. Cán bộ tiếp công dân phải thực hiện công việc với sự thận trọng cần thiết trong suốt quá trình tiếp công dân; phải có thái độ hoài nghi mang tính nghề nghiệp trong quá trình tiếp công dân; phải luôn có ý thức rằng có thể tồn tại những tình huống dẫn đến những sai sót trong hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 42. Cán bộ tiếp công dân phải sử dụng các ph­ương pháp chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với từng mức độ phức tạp của các vụ việc kiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người; thực hiện tốt nhiệm vụ của mình với tinh thần, thái độ và trách nhiệm nghề nghiệp cao; chủ động trư­ớc mọi tình huống, không vội vàng đưa ra những đánh giá thiếu khách quan khi chư­a nắm chắc, chưa hiểu đầy đủ tình tiết vụ việc khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị.

 

Điều 43. Cán bộ tiếp công dân phải có thái độ, tác phong thận trọng, kỹ lưỡng để hoạt động tiếp công dân đạt chất lượng cao; trước khi đ­ưa ra ý kiến nhận xét, đánh giá phải kiểm tra, xem xét lại tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của vụ việc khiếu nại, tố cáo đó.

 

Điều 44. Khi được giao các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài, vượt cấp từ địa phương lên Trung ương và ngược lại thì cán bộ tiếp công dân phải thận trọng, xem xét, đánh giá một cách toàn diện, độc lập, khách quan trước khi ra quyết định của mình. Nếu các vụ việc có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành thì cán bộ tiếp công dân phải lắng nghe, xin ý kiến tham gia của các bên liên quan trước khi đưa ra quyết định; cán bộ tiếp công dân phải chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.

 

Điều 45. Cán bộ tiếp công dân chỉ tham gia vào các hoạt động tiếp công dân khi thấy mình có đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm phù hợp với lĩnh vực hoạt động. Khi được giao nhiệm vụ tiếp công dân, nếu xét thấy không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm thì phải báo cáo người có thẩm quyền để không tham gia hoặc có thể đề nghị cán bộ khác có đủ năng lực và trình độ tham gia tiếp công dân; khi tham gia tiếp công dân phải đảm bảo nguyên tắc “Mọi vụ việc tiếp công dân đều được chính xác, khách quan, công bằng, đúng pháp luật”.

 

7. Bảo mật thông tin trong hoạt động tiếp công dân

 

Điều 46. Cán bộ tiếp công dân phải thực hiện đúng pháp luật về bí mật nhà nước; bí mật theo quy định của pháp luật tiếp công dân và pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; bí mật danh tính công dân đến khiếu nại, tố cáo; bí mật thông tin thu thập trong suốt quá trình hoạt động tiếp công dân; không được tiết lộ thông tin dưới bất kỳ hình thức nào khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo quy định của pháp luật.

 

Điều 47. Cán bộ tiếp công dân không được sử dụng các thông tin mà mình có được thông qua hoạt động tiếp công dân vào các mục đích khác ngoài nhiệm vụ được giao; nghiêm cấm sử dụng các thông tin này vào mục đích đem lại lợi ích cho bản thân, cho những người khác hoặc làm phương hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người khiếu nại, tố cáo và những người khác liên quan.

 

Điều 48. Trong trường hợp các cơ quan chức năng yêu cầu cung cấp thông tin để điều tra các dấu hiệu tội phạm thì trong phạm vi quyền hạn của mình, cán bộ tiếp công dân có trách nhiệm hợp tác, cung cấp đầy đủ thông tin theo quy định của pháp luật.

 

8. Tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ tiếp công dân

 

Điều 49. Các cơ quan tiếp công dân chỉ thực hiện tuyển dụng các cá nhân đã được đào tạo và có kinh nghiệm trong hoạt động tiếp công dân. Việc tuyển dụng, bổ nhiệm, điều động, phân công, luân chuyển nhân sự được thực hiện một cách cẩn trọng theo đúng quy định của pháp luật tiếp công dân và các quy định liên quan.

 

Điều 50. Các cơ quan thuộc thẩm quyền có trách nhiệm ban hành các quy định, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ tiếp công dân theo đúng quy định của pháp luật tiếp công dân; đảm bảo người được tuyển dụng, bổ nhiệm có trình độ, năng lực phù hợp với yêu cầu công việc và vị trí việc làm được bổ nhiệm.

 

Điều 51. Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào ngạch (bậc) tiếp công dân (ngạch thanh tra) phải thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển theo quy định của pháp luật tiếp công dân.

 

9. Phát triển nghề nghiệp tiếp công dân

 

Điều 52. Các cơ quan thuộc thẩm quyền ban hành quy định, quy trình, thủ tục đánh giá thường xuyên trình độ, năng lực để làm cơ sở xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển nghề nghiệp cho cán bộ tiếp công dân.

 

Điều 53. Các cơ quan thuộc thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ theo ngạch (bậc) phù hợp với từng vị trí tiếp công dân; thường xuyên đánh giá theo tiêu chuẩn này nhằm đảm bảo cán bộ tiếp công dân luôn đáp ứng được yêu cầu cho hoạt động tiếp công dân.

 

Điều 54. Các cơ quan thuộc thẩm quyền ban hành chính sách, biện pháp thích hợp trong từng thời kỳ để quy hoạch, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và thi nâng ngạch cho cán bộ tiếp công dân.

 

Điều 55. Cán bộ tiếp công dân có nghĩa vụ tự học tập, nghiên cứu, cập nhật các kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu trong hoạt động tiếp công dân; tham gia đầy đủ các khóa đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ do cơ quan có thẩm quyền tổ chức.

 

Điều 56. Các cơ quan thuộc thẩm quyền khuyến khích cán bộ tiếp công dân tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật tiếp công dân để mọi người dân hiểu và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định; cán bộ tiếp công dân thường xuyên trau dồi kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử, kỹ năng xử lý các tình huống phát sinh trong hoạt động tiếp công dân; sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật; học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

 

Điều 57. Cán bộ tiếp công dân luôn có trách nhiệm tham gia vào các hoạt động phát triển chuyên môn, nghiệp vụ; hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao; bảo vệ uy tín nghề nghiệp của bản thân, của cơ quan tiếp công dân và của ngành thanh tra.

 

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: