Hoàn thiện các quy định chi tiết về kiểm soát tài sản, thu nhập đáp ứng yêu cầu của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018    
Cập nhật: 20/08/2019 02:24
Xem lịch sử tin bài

Thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, được sửa đổi bổ sung năm 2007, 2012 (sau đây gọi tắt là Luật phòng, chống tham nhũng 2005), Chính phủ đã ban hành Nghị định số 78/2013/NĐ-CP ngày 17/7/2013 quy định về minh bạch tài sản, thu nhập.

Qua gần 5 năm thực hiện, các quy định của Nghị định 78/2013/NĐ-CP đã cơ bản đáp ứng yêu cầu về việc cụ thể hóa Luật phòng, chống tham nhũng 2005, tạo cơ sở pháp lý cần thiết cho việc tổ chức thi hành có hiệu quả các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng2005 về minh bạch tài sản, thu nhập.Tuy vậy, kể từ ngày 01/7/2019, Nghị định số 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã hết hiệu lực cùng với Luật phòng, chống tham nhũng 2005.

Luật phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14 ngày 20/11/2018 (sau đây gọi tắt là Luật phòng, chống tham nhũng 2018) được Quốc hội Khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ VIđã quy định chế định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập và có nhiều nội dung giao Chính phủ quy định chi tiết. Điều này đặt ra vấn đề là Chính phủ cần phải khẩn trương ban hành Nghị định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập để tổ chức thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng 2018.

Qua nghiên cứu, phân tích các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 về kiểm soát tài sản, thu nhập, tác giả bài viết xin được đóng góp một vài suy nghĩ của mình đối với việc xây dựng Nghị định của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập để đáp ứng yêu cầu của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 và bảo đảm các biện pháp thi hành trên thực tế.

             1. Khái quát những điểm mới của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 về kiểm soát tài sản, thu nhập

             Luật phòng, chống tham nhũng 2018 quy định riêng một mục, gồm 4 tiểu mục về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc chương về phòng ngừa tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị với những điểmmới chủ yếu sau đâu:

             Một là, Luật đã quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị trong kiểm soát tài sản, thu nhập với việc quy định các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong bộ máy nhà nước ở Trung ương, bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan này và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan trong kiểm soát tài sản, thu nhập. Đây là những quy định hoàn toàn mới mà Luật phòng, chống tham nhũng 2005 chưa đề cập.

          Hai là, Luật phòng, chống tham nhũng tiếp tục quy định việc kê khai tài sản, thu nhập trên tinh thần kế thừa và phát triển các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2005 với các quy định cụ thể về nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, người có nghĩa vụ kê khai,tài sản, thu nhập phải kê khai, phương thức, thời điểm kê khai, công tác tổ chức kê khai, tiếp nhận, quản lý, bàn giao, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập.

Đáng chú ý là quy định mới về Theo dõi biến động tài sản, thu nhập” đã được đặt ra trong các quy định về kê khai tài sản, thu nhập, yêu cầu các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập phải theo dõi biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai thông qua phân tích, đánh giá thông tin từ bản kê khai hoặc từ các nguồn thông tin khác.Trường hợp phát hiện tài sản, thu nhập có biến động lớn mà không thấy kê khai thì Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có quyền yêu cầu người kê khai cung cấp, bổ sung thông tin có liên quan phải giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm.

Ba là, Luật phòng, chống tham nhũng 2018 bổ sung nhiều quy định mới về xác minh tài sản, thu nhập như mở rộng các căn cứ xác minh tài sản thu nhập, bổ sung hình thức xác minh theo kế hoạch hàng năm đối với những người được lựa chọn xác minh ngẫu nhiên... nhiềunội dung trong Nghị định 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ đã được nâng lên đưa vào Luật phòng, chống tham nhũng 2018 như các quy định về thẩm quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc yêu cầu, kiến nghị xác minh tài sản, thu nhập, nội dung, trình tự xác minh tài sản, thu nhập, công khai Kết luận xác minh, xử lý hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực...

Bốn là, Luật phòng, chống tham nhũng 2018 quy định việc xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập. Đây cũng là nội dung hoàn toàn mới so với các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2005 về minh bạch tài sản, thu nhập.

Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập bao gồm thông tin về bản kê khai, kết luận xác minh tài sản, thu nhập và các dữ liệu khác có liên quan đến việc kiểm soát tài sản, thu nhập theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2018, được xây dựng và quản lý tập trung tại Thanh tra Chính phủ. Các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập khác cũng có trách nhiệmy dựng, quản lý, khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu về kiểm soát tài sản, thu nhập trong phạm vi quản lý của mình. Cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập được khác thác, sử dụng để phục vụ cho các cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập trong việc xác minh tài sản, thu nhậptrong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Năm là, Luật phòng, chống tham nhũng 2018 quy định cụ thể việc xử lý đối với hành vi vi phạm quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập. Người có hành vi kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không trung thực nếu là người ứng cử đại biểu Quốc hội, người ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử.Nếu là người được dự kiến bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử giữ chức vụ thì không được bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, phê chuẩn, cử vào chức vụ đã dự kiến. Những người khác  thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật bằng một trong các hình thức cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức, buộc thôi việc hoặc bãi nhiệm; nếu được quy hoạch vào các chức danh lãnh đạo, quản lý thì còn bị đưa ra khỏi danh sách quy hoạch; trường hợp xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm thì có thể xem xét không kỷ luật.Đối với người có hành vi vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Nhìn chung, Luật phòng, chống tham nhũng 2018 có nhiều quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập, trong đó có những nội dung có phạm vi rộng, nội hàm phức tạp, chưa được kiểm nghiệm trên thực tiễn. Mặc khác, có nhiều nội dung Luật không quy định chi tiết, cụ thể mà giao Chính phủ quy định. Do đó đòi hỏi việc xây dựng Nghị định của Chính phủ phải rất chặt chẽ, thận trọng, tỷ mỉ, tránh hình thức để bảo đảm thực thi có hiệu quả trên thực tế.

             2. Một số vấn đềchính cần được làm rõ trong quá trình cụ thể hóa các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 về kiểm soát tài sản, thu nhập

    Một là, cần làm rõ một số khái niệm quan trọng trong các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập.

    Các quy định của Luật phòng, chống tham nhũng về kiểm soát tài sản, thu nhập liên quan đến nhiều hoạt động như “kiểm soát tài sản, thu nhập”,“kê khai tài sản, thu nhập”,“công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập”,“giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm”,“xác minh tài sản, thu nhập”. Việc làm rõ các khái niệm nêu trên, nhất là khái niệm mới “kiểm soát tài sản, thu nhập” sẽ giúp những người thực thi hiểu đúng, hiểu rõ về nội hàm, bản chất của từng hoạt động và từ đó thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm, nhiệm vụ của mình khi tiến hành các hoạt động đó.

 Đối với “kiểm soát tài sản, thu nhập”, có thể coi đây là hoạt động mà cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập thực hiện theo quy định của pháp luật để biết rõ tài sản, thu nhập, biến động về tài sản, thu nhập, nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm của người có nghĩa vụ kê khai. Đối với “kê khai tài sản, thu nhập”, có thể coi là hoạt động ghi thông tin về các loại tài sản, thu nhập, biến động tài sản, thu nhập phải kê khai, nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định này. Đối với “công khai Bản kê khai tài sản, thu nhập”, có thể coi là hoạt động công bố đầy đủ thông tin trong bản kê khai tài sản, thu nhập bằng các hình thức theo quy định của pháp luật. Đối với “giải trình nguồn gốc tài sản, thu nhập tăng thêm”, có thể coi là việc người có nghĩa vụ kê khai giải thích và làm rõ về nguồn gốc hình thành tài sản, thu nhập tăng thêm đó. Đối với “xác minh tài sản, thu nhập”, có thể là hoạt động xem xét, đánh giá, kết luận của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định này về tính trung thực, đầy đủ, rõ ràng của bản kê khai tài sản, thu nhập và tính trung thực trong việc giải trình về nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm.

Hai là, cần làm rõ mục đích và những nguyên tắc chung trong kiểm soát tài sản, thu nhập.

Kiểm soát tài sản, thu nhập tuy được đặt trong Chương quy định về phòng ngừa tham nhũng nhưng lại rất có ý nghĩa đối với việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Thông qua thông tin về tài sản, thu nhập có thể đặt vấn đề về sự bất minh đối với những người có chức vụ, quyền hạn khi tài sản của họ tăng lên bất bình thường so với thu nhập hợp pháp mà không giải trình được. Thông qua kiểm soát tài sản, thu nhập có thể hỗ trợ ngăn chặn việc tẩu tán tài sản do phạm tội mà có hoặc khi cần thiết áp dụng các biện pháp ngăn chặn, phong tỏa, phục vụ việc xử lý tài sản tham nhũng. Do đó cần thiết phải nêu rõ mục đích của Kiểm soát tài sản, thu nhập là để cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền biết rõ tình trạng và sự biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm phòng ngừa tham nhũng, phục vụ công tác quản lý cán bộ, kịp thời phát hiện tham nhũng, ngăn chặn hành vi tẩu tán và thu hồi tài sản tham nhũng.

Hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập động chạm đến quyền hiến định về sở hữu tài sản của công dân và cũng là một hoạt động có độ rủi ro cao liên quan đến tiêu cực, tham nhũng. Vì vậy cần phải xác định rõ nguyên tắc của hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập là phải tuân theo pháp luật, đúng đối tượng, thực hiện thường xuyên, minh bạch, công bằng, khách quan; không làm cản trở các quyền đối với tài sản, thu nhập hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân.

Theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 thì những người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải hoàn thành việc kê khai tài sản, thu nhập lần đầu trước 31/12/2019. Việc kê khai lần đầu này đặt ra vấn đề là cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có áp dụng quy định của Luật phòng, chống tham nhũng 2018 về kiểm soát tài sản, thu nhập để xem xét, đánh giá, xử lý vi phạm đối với việc kê khai tài sản, thu nhập trước đây theo Luật phòng, chống tham nhũng 2005 hay không? Thực tế là Điều 53 Luật phòng, chống tham nhũng 2005 đã có quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập nhưng sau đó không cụ thể hóa được. Đến nay các quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập lần đầu mới được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng 2018 và có hiệu lực từ 01/7/2019. Do đó, việc áp dụng các quy định mới về kiểm soát tài sản, thu nhập để xem xét, đánh giá, xử lý đối với việc kê khai tài sản trước đây là không phù hợp. Để làm rõ vấn đề này, cần phải thể hiện rõ nguyên tắc là việc thực hiện các biện pháp kiểm soát tài sản, thu nhập, xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm phải căn cứ vào bản kê khai tài sản, thu nhập, việc giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm được thực hiện theo Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Bà là, cần làm rõ trình tự, thủ tục yêu cầu, thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin về tài sản, thu nhập để phục vụ việc xác minh tài sản, thu nhập.

Thông tin về tài sản, thu nhập và trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc cung cấp loại thông tin này khi có yêu cầu của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập cần phải được làm rõ để bảo đảm quyền về tài sản của công dân, thông tin về tài sản không bị lạm dụng và quá trình tiếp cận thông tin được quản lý chặt chẽ, đúng quy định. Do đó, khi cụ thể hóa Luật phòng, chống tham nhũng về nội dung này, cần phải quy định rõ thẩm quyền yêu cầu, trách nhiệm thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin; trình tự, thủ tục yêu cầu, gắn với thẩm quyền yêu cầu; trình tự, thủ tục cung cấp thông tin để bảo đảm đáp ứng yêu cầu cả về tính pháp lý của thông tin và thời hạn cung cấp. Cũng cần có thủ tục riêng đối với trường hợp việc yêu cầu, thực hiện yêu cầu giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong khu vực nhà nước và trường hợp liên quan đến doanh nghiệp, tổ chức thuộc khu vực ngoài nhà nước và cá nhân công dân. Đặc biệt chú ý là việc yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp thông tin thì phải bảo đảm những quy định hiện hành của Chính phủ như tại Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 của Chính phủ quy định về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàngnước ngoài, đồng thời bảo đảm tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được từ chối cung cấp thông tin phục vụ hoạt động kiểm soát tài sản, thu nhập chỉ vì lý do giữ bí mật thông tin khách hàng.

Bốn là, cần xây dựng Mẫu bản kê khai tài sản và hướng dẫn cụ thể việc thực hiện kê khai.

Có thể nói kê khai tài sản, thu nhập là khâu đầu tiên và rất quan trọng của quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập; là căn cứ để theo dõi, đánh giá, so sánh, phát hiện việc kê khai, giải trình không trung thực. Thông tin liên quan đến tài sản trên thực tế cũng rất đa dạng, phong phú. Do đó mà việc xây dựng Mẫu bản kê khai rất có ý nghĩa để bảo đảm cho việc kê khai đầy đủ, rõ ràng nhưng phải thuận tiện; dễ theo dõi, kiểm soát và phù hợp để ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở dữ liệu. Luật phòng, chống tham nhũng lại quy định nhiều phương thức kê khai khác nhau như kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê khai hàng năm, kê khai phục vụ công tác cán bộ... Do đó, mẫu bản kê khai cần được thiết kế phù hợp để đáp ứng yêu cầu của các phương thức kê khai khác nhau, đồng thời không tạo quá nhiều mẫu khác nhau, dễ gây nhầm lần khi thực hiện.

Trước đây, Mẫu bản kê khai được ban hành theo Thông tư 08/2013/TT-TTCP của Thanh tra Chính phủ, đồng thời Thông tư này cũng ban hành tài liệu hướng dẫn việc kê khai. Nhưng để thuận tiện cho việc tra cứu, thực hiện, có thể tích hợp nội dung hướng dẫn vào mẫu bản kê khai để người kê khai thuận tiện hơn trong việc thực hiện.

Năm là, cần quy định cụ thể về người làm công tác tổ chức cán bộ, quản lý tài chính công, tài sản công, đầu tư công hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân

Theo Luật phòng, chống tham nhũng, những đối tượng nêu trên thuộc diện phải kê khai tài sản, thu nhập hàng năm. Nội hàm của đối tượng này rất rộng liên quan đến cán bộ ở nhiều cấp, nhiều ngành và trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị. Do đó, cần lựa chọn quy định một số ngạch công chức đặc thù thuộc đối tượng nêu trên phải kê khai tài sản, thu nhập hàng năm như Chấp hành viên, Điều tra viên, Kiểm lâm viên, Kiểm sát viên, Kiểm soát viên ngân hàng, Kiểm soát viên thị trường, Kiểm soát viên thuế, Kiểm toán viên, Kiểm tra viên hải quan,  Kiểm tra viên của Đảng, Thanh tra viên, Thẩm phán... Đây đều là những ngạch công chức trực tiếp quản lý cán bộ, quản lý tài chính, tài sản và tiếp xúc, giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức cá nhân. Ngoài ra, người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp và một số vị trí công tác cụ thể khác cũng cần phải quy định việc kê khai tài sản hàng năm nhưng không nhất thiết quy định tất cả mà có thể chỉ yêu cầu những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ Phó Trưởng phòng và tương đương trở lên.

Sáu là, cần quy định cụ thể thời điểm, hình thức và việc tổ chức công khai bản kê khai tài sản, thu nhập tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; bản kê khai tài sản, thu nhập của người dự kiến được bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vịngười dự kiến bầu giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý tại doanh nghiệp nhà nước.

Đối với người dự kiến được bầu, bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì việc công khai thông tin bản kê khai tài sản, thu nhậpngay tại cuộc họp lấy phiếu tín nhiệm hoặc cuộc họp bầu chọn sẽ giúp cho người ghi phiếu có thêm căn cứ để quyết định đặt sự tín nhiệm của mình đối với những cán bộ có tài sản rõ ràng, minh bạch, đồng thời cũng là cơ sở để cơ quan, tổ chức theo dõi, giám sát trong quá trình sau này. Về hình thức công khai thì có thể lựa chọn niêm yết, công bố toàn văn hoặc cả hai hình thức để bảo đảm công khai, minh bạch.

Bảy là, cần quy định cụ thể việc xây dựng, phê duyệt kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hàng năm của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhậptiêu chí lựa chọn người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được xác minh ngẫu nhiên

Việc xây dựng kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hàng năm là rất quan trọng và phải đảm bảo có trọng tâm, trọng điểm, đáp ứng yêu cầu của công tác phòng, chống tham nhũng. Người đứng đầu cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập tổ chức việc xây dựng kế hoạch xác minh tài sản, thu nhập hàng năm và phê duyệt ngay từ đầu năm trong đó xác định cụ thể các cơ quan, tổ chức, đơn vị được xác minh.

Số lượng cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân kê khai tài sản, thu nhập là rất lớn nên phải có phương pháp nhất quán và phù hợp để lựa chọn đối tượng xác minh, bảo đảm sự ngẫu nhiên, khách quan. Tùy theo quy mô quản lý mà cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thểlựa chọn tỷ lệ nhất định cơ quan, tổ chức, đơn vị đưa vào kế hoạch xác minh hàng năm. Sau đó lựa chọn xác minh ngẫu nhiên số lượng nhất định những người kê khai tại mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị bằng hình thức bốc thăm.

Tám là, cần quy định rõ cán bộ tương đương Giám đốc sở trở lên tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, doanh nghiệp Nhà nước (thuộc thẩm quyền kiểm soát của Thanh tra Chính phủ).

Khoản 1 Điều 30 quy định: “Thanh tra Chính phủ kiểm soát tài sản, thu nhập của người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước”.

Khi dự thảo Luật phòng, chống tham nhũng, cơ quan soạn thảo đã sử dụng hệ số phụ cấp từ 0,9 trở lên để quy định diện cán bộ tương đương giám đốc sở thuộc phạm vi kiểm soát của Thanh tra Chính phủ. Nhưng vì dự liệu cho chương trình cải cách tiền lương sắp tới sẽ không còn quy định về hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo nên Luật phòng, chống tham nhũng đã không còn quy định theo hệ số 0,9 nêu trên.

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật không có quy định về cán bộ tương đương Giám đốc sở làm việc tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập và nhất là tại doanh nghiệp nhà nước. Việc làm rõ đối tượng này là rất quan trọng để phân định được đối tượng thuộc phạm vi kiểm soát của Thanh tra Chính phủ với các cơ quan khác kiểm soát tài sản, thu nhập trong bộ máy hành chính.

Do Luật phòng, chống tham nhũngkhông giao Chính phủ quy định chi tiết Khoản 1 Điều 30 nên Nghị định có thể quy định vấn đề này dưới hình thức là biện pháp thi hành Luật phòng, chống tham nhũng, theo hướng quy định cụ thể các chức danh phải nộp bản kê khai về Thanh tra Chính phủ và các chức danh khác căn cứ theo phụ cấp chức vụ từ 0,9 trở lên. Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước không có phụ cấp chức vụ thì quy định nộp bản kê khai về Thanh tra Chính phủ đối với một số vị trí lãnh đạo, cụ thể như: Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Trưởng ban Kiểm soát, Kế toán trưởng…

Chín là, cần phân định rõ thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập trong trường hợp người kê khai tài sản, thu nhập thuộc đối tượng kiểm soát của nhiều cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập.

Theo quy định tại Điều 30 của Luật phòng, chống tham nhũng thì 01 người có thể chịu sự kiểm soát của nhiều cơ quan kiểm soát tài sản. Ví dụ: Bí thư tỉnh ủy, huyện ủy đồng thời là Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện thì vừa thuộc phạm vi kiểm soát của cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập của Đảng, vừa thuộc đối tượng kiểm soát của Thanh tra Chính phủ hoặc Thanh tra tỉnh. Người đó sẽ phải nộp nhiều bản kê khai tài sản, thu nhập và có thể xảy ra chồng chéo, trùng lặp trong việc xác minh tài sản, thu nhậpcũng như thực hiện các biện pháp kiểm soát khác.

Do đó có thể quy định theo hướng các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập đều phải thực hiệncác hoạt động kiểm soát đối với đối tượng nêu trên theo đúng quy định của Luật phòng, chống tham nhũng (như tiếp nhận bản kê khai, theo dõi biến động, cập nhật, quản lý dữ liệu về tài sản, thu nhập...). Riêng việc tiến hành kiểm tra, xác minh về tài sản, thu nhập thì cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập nào dự định tiến hành xác minh cần phải trao đổi với cơ quan khác cùng có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập của người đó để thống nhất về cơ quan chủ trì và việc phối hợp tiến hành xác minh để tránh chồng chéo, trùng lặp và các cơ quan sẽ cùng sử dụng kết quả xác minh đó phục vụ hoạt động kiểm soát của mình.

ThS. Ngô Mạnh Hùng,

 Phó Cục trưởng Cục IV, TTCP

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: