Một số nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam    
Cập nhật: 02/11/2020 10:02
Xem lịch sử tin bài

Kiểm soát tài sản, thu nhập là kiểm soát được động cơ tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn. Kiểm soát tốt làm giảm nguy cơ tham nhũng. Trước khi có hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, hệ thống minh bạch tài sản, thu nhập được xây dựng để giúp phát hiện những vi phạm trong việc kê khai tài sản cũng những vi phạm của cán bộ, công chức, viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ công.

Sau đó, hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập của người chức vụ, quyền hạn lần đầu tiên được đề cập một cách cụ thể hơn trong Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018. Các quy định về hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập được quy định chi tiết hơn nữa qua Nghị định của Chính phủ về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Tuy nhiên, Nghị định này vẫn đang ở dạng Dự thảo do Thanh Tra Chính phủ xây dựng và chưa được ban hành. Bài viết này chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam.

 

Các quốc gia trên Thế giới coi kiểm soát tài sản, thu nhập như một trong số những công cụ hiệu quả nhất để phòng ngừa tham nhũng. Tùy thuộc vào yếu tố chính trị, điều kiện kinh tế xã hội của đất nước, hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập khi đó được thiết kế với những mục đích cụ thể. Hai mục đích chủ yếu của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập được đa số các quốc gia trên thế giới áp dụng đó là ngăn chặn xung đột lợi ích và phát hiện hành vi làm giàu bất chính. Nhiều quốc gia phát triển như Hồng Kông, Mỹ, Anh hướng đến mục tiêu ngăn chặn xung đột lợi ích là chủ yếu (xung đột giữa trách nhiệm công và lợi ích tư), trong khi đó một số quốc gia đang phát triển như Indonesia, Malaysia, Ukraine sử dụng hệ thống kê khai tài sản thu nhập cho mục đích phát hiện hành vi làm giàu bất chính (là sự hưởng lợi ích tài chính từ việc vi phạm việc thực thi công vụ hoặc có hành vi tham nhũng). Bên cạnh đó, các nước Trung và Tây Âu, Nga, Bỉ xây dựng hệ thống kê khai tài sản, thu nhập cho cả hai mục đích. Việc sử dụng hệ thống kê khai tài sản cho các mục đích khác nhau cũng dẫn tới sự khác nhau trong quy định pháp luật về người kê khai, thông tin yêu cầu kê khai và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền… Hệ thống kê khai tài sản, thu nhập là một công cụ phòng, chống tham nhũng mạnh nhưng hệ thống đó cũng có thể không mang lại hiệu quả nếu mục tiêu của hệ thống quá tham vọng, không đủ nguồn lực thực hiện, hoặc thiếu sự cam kết chính trị. Theo khuyến nghị của ngân hàng thế giới, hệ thống kê khai tài sản, thu nhập nên được thiết kế để điều chỉnh vấn đề tham nhũng của đất nước đó. Ở Việt Nam, chưa có bất kỳ quy định pháp luật hay văn bản nào để cập rõ ràng đến mục đích của việc kê khai tài sản. Tuy nhiên, như xu thế chung của các nước đang phát triển nơi có nguy cơ tham nhũng cao và quản trị nhà nước còn yếu, mục đích của việc kê khai tài sản ở Việt Nam gần như như nhấn mạnh vào việc phát hiện các hành vi làm giàu bất chính hơn là xung đột lợi ích. Theo báo cáo tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra rằng việc áp dụng cả hai mục đích này có thể giúp giải quyết vấn đề tham nhũng ở Việt Nam. Qua phân tích hệ thống xác minh tài sản, thu nhập hiện nay của Việt Nam và sự so sánh với các yêu cầu liên quan từ UNCAC[1] và kinh nghiệm thực tiễn tốt của Hồng Kông (Trung Quốc), Indonesia, nhận thấy, có các nguyên nhân chính dẫn đến sự không hiệu quả của hệ thống kê kiểm soát tài sản, thu nhập ở Việt Nam hiện nay bao gồm (1) thiếu cam kết tư tưởng chính trị; (2) quy định pháp luật còn hạn chế về phạm vi và mức độ kê khai, xác minh tài sản thu nhập, công khai và hình phạt cho sự không tuân thủ; (3) thiếu sự áp dụng khoa học kỹ thuật và (4) sự hạn chế trong số lượng và năng lực của đội ngũ cán bộ thực hiện hoạt động kiểm soát.

 

1. Thiếu các cam kết chính trị chặt chẽ

 

Yếu tố chính trị là một nhân tố quan trọng nhất cho bối cảnh chính sách của một quốc gia bởi năng lực của các lãnh đạo chính trị và sự cam kết chính trị chặt chẽ của họ trong đấu tranh chống tham nhũng. Sự sẵn sàng chính trị ngụ ý sự quyết tâm của các chính trị gia trong việc giảm tham nhũng thông qua kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Cán bộ, công chức đều phải đối mặt với hình phạt dẫu chức vụ, quyền hạn có lớn như thế nào. Trong trường hợp này, sự sẵn sàng chính trị được hiểu là sự quan tâm thích đáng của các chính trị gia trong việc kiềm chế những nguyên nhân và tác động của tham nhũng thông qua hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập. Hệ thống chính trị của một số quốc gia như Hồng Kông (Trung Quốc) hay Indonesia có cam kết chặt chẽ chống hành vi tham nhũng của cán bộ, công chức bởi hệ thống kê khai tài sản, thu nhập. Thiếu các cam kết chính trị trong phòng chống tham nhũng có thể là nguyên nhân chính dẫn đến những sai lầm và sự không hiệu quả của một chính sách. Nói cách khác, sự cam kết chính trị (sẵn sàng chính trị) là điều kiện tiên quyết để có thể có một chính sách phòng chống tham nhũng khả thi và toàn diện, chính sách chống tham nhũng bằng kiểm soát tài sản thu nhập cũng không phải là một ngoại lệ. Việc thiếu các cam kết chính trị chặt chẽ, rõ ràng là sự biểu biện của sự thiếu minh bạch, ẩn giấu tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn bởi lợi ích nhóm hoặc lợi ích cá nhân có được bởi việc lạm dụng vị trí, quyền hạn của họ trong việc thực hiện công vụ. Tóm lại, một chính sách phòng chống tham nhũng và một hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập sẽ không hiệu quả nếu thiếu đi sự cam kết rõ ràng chính trị của các nhà lãnh đạo dẫu Luật Phòng, chống tham nhũng đầy đủ hay có các cơ quan phòng, chống tham nhũng độc lập. Vì thế, chính trị không rõ ràng, thiếu quyết liệt thì có thể là nguyên nhân chính cho sự không hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập. Do đó, cũng rất khó để thiết kế một hệ thống pháp luật về kiểm soát tài sản, thu nhập hiệu quả nếu thiếu sự cam kết chính trị rõ ràng, mạnh mẽ về việc ngăn chặn tham nhũng bằng hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập.

 

Có hai nhân tố để đánh giá sự cam kết chính trị của một chính phủ đó là (1) mức chi tiêu cho hoạt động phòng, chống tham nhũng tính theo bình quân đầu người; (2) tỉ lệ số lượng cán bộ, công chức trong các cơ quan phòng, chống tham nhũng so với tỉ lệ dân số của quốc gia đó được phục vụ bởi số lượng cán bộ công chức phòng, chống tham nhũng theo năm. Ví dụ, ở Hồng Kông (Trung Quốc), chi phí bình quân cho cơ quan phòng, chống tham nhũng là 13.40 triệu đô la Mỹ trong năm 2008 và tỉ lệ số nhân viên trong cơ quan phòng, chống tham nhũng là 1:5,780. Trong khi đó, ở Indonesia, chi phí cho cơ quan phòng chống tham nhũng là 0.14 triệu đô la Mỹ và số nhân viên trong cơ quan phòng, chống tham nhũng là 1:433,888[2]. Ở Việt Nam, hai nhân tố này chưa bao giờ được chỉ ra một cách cụ thể qua các năm, thiếu sự minh bạch và giải trình ngân sách nhà nước có thể thấy rõ sự chưa sẵn sàng, quyết tâm chính trị của nhà nước trong phòng, chống tham nhũng nói chung và việc sử dụng hệ thống kiếm soát tài sản, thu nhập để phòng, chống tham nhũng nói riêng. Như số liệu ở trên có thể nhận thấy số tiền chính phủ Hồng Kông (Trung Quốc) chi cho phòng chống tham nhũng lớn hơn rất nhiều so với Indonesia và Việt Nam năm 2008 vì vậy có thể đưa ra giả thiết rằng sự thành công của chính sách phòng, chống tham nhũng có thể bắt nguồn từ sự đầu tư phù hợp đối với ngân sách và nguồn lực để phòng, chống tham nhũng. Hồng Kông có nhiều chính sách phòng chống, tham nhũng hiệu quả bởi Hồng Kông là một khu vực tự trị ổn định về chính trị, mức bình quân đầu người cao và số lượng dân tương đối ít.

 

Thực tế, lãnh đạo Việt Nam đã nhận thức về tác hại của tham nhũng đối với quản trị nhà nước nhưng thật khó để xác định liệu rằng những người lãnh đạo đó có thực sự muốn giải quyết triệt để vấn đề đó hay không. Hiện nay, sự sẵn sàng hay cam kết chính trị của các nhà lãnh đạo gần như chỉ là những lời nói mà chưa được quy định chi tiết trong văn bản cụ thể. Họ chưa sẵn sàng trong việc đấu tranh chống tham nhũng và dùng hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập để phát hiện, ngăn ngừa tham nhũng ở Việt Nam bởi vì những lợi ích cá nhân, hay lợi ích nhóm đặt dưới lớp áo của chính sách phòng, chống tham nhũng. Không giống như Hồng Kông (Trung Quốc) và Indonesia, hệ thống phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay đang thiếu sự độc lập giữa các cơ quan cùng thực hiện chức năng phòng, chống tham nhũng. Đối với hệ thống kiểm soát, tài sản thu nhập, người xác minh bản kê khai tài sản, thu nhập chỉ có trách nhiệm phát hiện ra những vi phạm từ việc kê khai của đối tượng kê khai. Sau đó, kết quả xác minh sẽ được chuyển tới cơ quan có thẩm quyền để xem xét theo quy định của pháp luật.

 

2. Thiếu một khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ

 

Khung pháp lý về kiểm soát tài sản thu nhập tồn tại một số những hạn chế nhất định trên cơ sở so sánh với quy định của UNCAC và thực tiễn tốt ở Hồng Kông và Indonesia. Sự hạn chế của khung pháp lý nằm ở 04 yếu tố chính đó là phạm vi và mức độ kê khai; xác minh tài sản, thu nhập; công khai, hình phạt cho việc không tuân thủ.

 

Thứ nhất, đối với phạm vi của hệ thống kiểm soát tài sản, số lượng đối tượng kê khai tài sản, thu nhập hiện nay là quá lớn, chiếm khoảng ½ tổng số cán bộ, công chức ở Việt Nam (xấp xỉ hơn một triệu bản kê khai tài sản, thu nhập mỗi năm)[3]. Số lượng bản kê khai tài sản có xu hướng tăng lên khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 được ban hành, khi đó hệ thống kê khai tài sản, thu nhập sẽ trở lên hình thức và rất phức tạp. Sự bắt buộc kê khai tài sản, thu nhập của các cán bộ, công chức có tương đương vị trí công tác là không phù hợp vì mỗi vị trí việc làm có sự khác nhau về nguy cơ tham nhũng. Việc yêu cầu một số lượng lớn cán bộ, công chức phải kê khai tài sản, thu nhập của họ là không cần thiết và tạo ra sự áp lực cho hệ thống kê khai trên khía cạnh lưu trữ và xử lý đơn mang tính hình thức. Hơn thế nữa, những tài sản, thông tin được yêu cầu kê khai mang tính liệt kê nhưng có thể chưa bao quát, đầy đủ. Các quy định hiện nay gần như tồn tại một lỗ hổng lớn để mà các cán bộ, công chức thiếu đạo đức có thể ẩn giấu tài sản, thu nhập bất hợp pháp dễ dàng.

 

Thứ hai, cơ chế xác minh hệ thống kê khai tài sản ở Việt Nam có đặc thù khác so với hệ thống kê khai tài sản ở nhiều nước trên thế giới. Sự khác biệt quan trọng đó là cán bộ, công chức có nghĩa vụ để giải thích sự biến động tài sản của cán bộ, công chức trong thời kỳ yêu cầu kê khai. Nếu cán bộ, công chức đó không thể giải thích hợp lý được sự tăng lên của tài sản, thu nhập đó, việc xác minh tài sản thu nhập được xác lập để xác minh sự trung thực, chính xác của bản kê khai nhằm phát hiện các hành vi làm giàu bất chính của cán bộ, công chức. Tiêu chí để xác minh trong hệ thống pháp luật hiện nay gần như là không đủ dẫn đến sự bỏ sót các cán bộ, công chức có hành vi vi phạm. Có rất ít các trường hợp được xác minh bởi cơ quan có thẩm quyền để phát hiện ra các hành vi vi phạm của cán bộ, công chức. Hơn thế nữa, hệ thống kê khai tài sản của Việt Nam không được quy định một phương thức cụ thể để tính toán đầu vào, đầu ra dòng tiền (nguồn tài chính) của cán bộ, công chức để cơ quan có thẩm quyền có thể xác định chính xác hơn sự không phù hợp giữa thu nhập thực sự với chi tiêu của cán bộ, công chức trên thực tế.

 

Thứ ba, hạn chế tiếp theo của hệ thống kê khai tài sản thu nhập đó là công khai bản kê khai tài sản, thu nhập. Mặc dù, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức được tiết lộ công khai ở nơi làm việc của người kê khai hoặc khi bỏ phiếu đại biểu, điều đó là bất tiện và khó khăn cho người dân hoặc tổ chức xã hội để tiếp cận việc kê khai tài sản của cán bộ, công chức, điều đó làm cản trở mục tiêu của hệ thông kiểm soát tài sản thu nhập nhằm giảm tham nhũng. Trên thực tế, với phương thức tiếp cận hiện tại, chỉ có một số ít người chú ý đến bản kê khai tài sản của đồng nghiệp họ. Thêm vào đó, việc kê khai ở nơi làm việc của người kê khai không được bảo đảm sự minh bạch của hệ thống bởi người quản lý kiểm tra bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức. Trong nhiều trường hợp, người quản lý che giấu hành vi vi phạm của nhân viên như một cách để che đậy hành vi vi phạm của chính họ. Do đó, sự công khai như hiện nay gần như cản trở hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập bởi sự hạn chế tiếp cận của công dân và xã hội đối với bản kê khai.

 

Cuối cùng, mặc dù UNCAC đã đưa ra những khuyến nghị về hình phạt cho sự không tuân thủ nên được thiết kế để phù hợp với bối cảnh quốc gia, một tập hợp các hình phạt yếu kém là nguyên nhân của một hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập không hiệu quả. Hiện nay, hệ thống kiểm soát chỉ tập trung vào các hình phạt kỷ luật thay vì hình phạt hành chính hay hình sự. Vì vậy, tính răn đe của hình phạt là không cao. Hình phạt đối với việc không tuân thủ được quy định tại Điều 51 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 là không đủ tính răn đe để đảm bảo sự tuân thủ của cán bộ, công chức bởi vì lợi ích đạt được từ sự vi phạm vượt quá những thiệt hại về kỷ luật đối với người có hành vi vi phạm. Cán bộ, công chức sẽ tiếp tục thực hiện hành vi tham nhũng bởi những hình phạt đó thực sự không làm họ sợ hãi.

 

3. Thiếu sự áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến

 

Khoa học công nghệ góp phần làm giảm đi những sai sót của con người trong quá trình kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn; giúp tăng cường sự hiệu quả cho quy trình xác minh và công khai các thông tin kê khai tài sản, thu nhập. Do đó, sự thiếu công nghệ phù hợp có thể là nguyên nhân dẫn tới sự không hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập. Phương thức xác thực và công khai của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập hiện tại ở Việt Nam là thủ công và chưa áp dụng các phương thức tiến bộ khoa học công nghệ như nhiều nước trên thế giới. Cụ thể như sau:

 

Thứ nhất, đối với cơ chế xác minh, kết luận xác minh phụ thuộc vào số lượng và chất lượng thông tin và số liệu được thu thập từ các nguồn khác nhau như ngân hàng, cơ quan nhà đất, thuế và cơ quan chủ quan của người kê khai. Hiện nay, cơ quan chủ quản của người kê khai quản lý bản kê khai tài sản, thu nhập quản lý, lưu trữ bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức của họ. Đầu tiên, cơ quan có thẩm quyền so sánh một danh sách các thông tin kê khai được cung cấp bởi người có nghĩa vụ kê khai với các thông tin đã được kê khai trước đó và rà soát xem liệu rằng bản kê khai tài sản đó có đã được điền đầy đủ các thông tin và các thông tin có chính xác hay không bằng phương pháp thủ công là đối chiếu trên văn bản. Nếu cần xác minh thì bản kê khai tài sản, thu nhập đó sẽ được đối chiếu với các nguồn thông tin khác nhau được cung cấp bởi các cơ quan có liên quan. Ở Indonesia, có hệ thống điện tử được thiết kế riêng để khắc phục những hạn chế của phương pháp truyền thống. Hệ thống này góp phần giúp việc kiểm soát tài sản, thu nhập trở thành một công cụ hữu dụng để giảm tham nhũng thông qua việc xác minh kịp thời và chính xác. Hệ thống điện tử này giúp hạn chế những lỗi sai trong việc xác minh dẫu việc xác minh qua internet vẫn có thể tồn tại những sai số nhỏ. Theo Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập sẽ được xây dựng và phát triển trong thời gian tới. Theo đó, hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về kiểm soát tài sản, thu nhập bao gồm các thông tin về bản kê khai tài sản, kết luận xác minh tài sản, thu nhập và các thông tin khác có liên quan đến tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai. Hệ thống cơ sở dữ liệu mới này có thể mang lại hiệu quả tích cực đối với việc kiểm soát, tài sản thu nhập để phát hiện ra các hành vi làm giàu bất chính nhằm phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam nhưng phải có sự kết nối dữ liệu với các cơ quan cung cấp thông tin.

 

Thứ hai, việc công khai bản kê khai tài sản của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập hiện nay có nhiều điểm hạn chế đó là nguyên nhân dẫn đến sự không hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập. Việc công khai bản kê khai tài sản, thu nhập sẽ trở nên hiệu quả hơn nếu bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức có thể được tiếp cận trên hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử công khai. Mỗi người có thể rà soát bản kê khai tài sản của cán bộ, công chức ở bất cứ thời điểm nào, bất cứ ở đâu thay vì tiếp cận tại nơi làm việc của người có nghĩa vụ kê khai hoặc trong các cuộc họp bầu lấy phiếu tín nhiệm…Sự tiếp cận công khai này đảm bảo sự minh bạch trong hành chính công cũng như thúc đẩy vai trò của người dân trong việc giám sát tài sản và thu nhập của cán bộ, công chức. Bên cạnh đó người có nghĩa vụ kê khai cũng có thể kê khai tài sản, thu nhập của họ thông qua hệ thống điện tử đó. Sự kiểm soát việc nộp bản kê khai cũng như việc lưu trữ bản kê khai tài sản, thu nhập sẽ trở nên đơn giản hơn phương thức truyền thống.

 

4. Hạn chế về số lượng và năng lực của cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập

 

Sự hạn chế về số lượng và năng lực của người thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập ở Việt Nam hiện nay. Theo điều 30 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018, cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập được phân bổ từ trên xuống dưới, từ cấp trung ương đến cấp địa phương. Theo đó, ngoài cơ quan phòng chống tham nhũng là Thanh tra Chính phủ, cơ quan thanh tra cấp tỉnh, các cơ quan khác như các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan có thẩm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam được tiến hành kiểm soát tài sản, thu nhập của các cá nhân được yêu cầu để kê khai tài sản, thu nhập tương ứng với thẩm quyền. Tuy nhiên, việc xác minh tài sản, thu nhập chỉ là một nhiệm vụ của cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập. Các cơ quan đó vẫn phải thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn về quản lý nhà nước. Ví dụ như Thanh tra Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về thanh tra, phòng, chống tham nhũng, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp công dân. Trong khi đó, như đã đề cập ở trên số lượng bản kê khai tài sản, thu nhập hàng năm là rất lớn. Số lượng người có trách nhiệm kiểm soát tài sản, thu nhập gần như không đủ. Hơn thế nữa, đa số các cán bộ đó không được huấn luyện, đào tạo bài bản kỹ năng, nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ công chức. Do đó, khó có thể mang lại hiệu quả cao cho hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập. Lấy ví dụ về hệ thống kiểm soát tài sản thu nhập của Hồng Kông (Trung Quốc) và Indonesia, đất nước đó thành lập cơ quan độc lập để thực hiện nhiệm vụ này. Việc thiết kế cơ quan độc lập với nguồn nhân sự chuyên nghiệp hóa giúp hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập của hai quốc gia này đạt kết qủa tốt giúp giảm tình trạng tham nhũng. Số lượng nhân viên giám sát là đủ để giải quyết số lượng bản kê khai tài sản hàng năm kết hợp cùng với sự hỗ trợ của phương tiên kỹ thuật hiện đại. Ở Việt Nam chưa có bất kỳ chương trình đào tạo nào cho cán bộ thực hiện nhiệm vụ kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ công chức Việt Nam. Hiện nay, Thanh tra Chính phủ đang kiểm soát 6.000 bản kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn[4]. Nếu nhiệm vụ kiểm soát này được thực hiện bởi cơ quan thanh tra, hiệu quả, hiệu suất của hoạt động thanh tra kinh tế xã hội có thể bị giảm sút bởi phải phân bổ nguồn lực để thực hiện kiếm soát tài sản, thu nhập. Do đó, cần phải có sự cân đối để đảm bảo hiệu quả của hệ thống kiểm soát tài sản, thu nhập cũng như chất lượng của nhiệm vụ quản lý nhà nước khác.

 

ThS. Ngô Thu Trang

Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra



[1]  Công ước Liên Hợp Quốc về phòng, chống tham nhũng

[2] Martini, M 2013, Asset declaration regimes in selected Asian countries, vol. 27, Transparency International.

[3] Hồ Thị Thu An, (2018), Kiểm soát tài sản, thu nhập: Thực trạng quy định và kiến nghị, đề xuất, Công thông tin điện tử Bộ Giao Thông,

[4] Trang tin  của Bộ Nội Vụ “Đầu mối kiểm soát tài sản cán bộ: Quy về cơ quan thanh tra” < https://www.moha.gov.vn/tin-tuc-su-kien/diem-tin/dau-moi-kiem-soat-tai-san-can-bo-quy-ve-co-quan-thanh-tra-37811.html>, truy cập tháng 21/10/2020

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: