Một số vấn đề đặt ra trong chính sách xử lý đối với hành vi tham nhũng ở Việt Nam    
Cập nhật: 29/05/2020 11:43
Xem lịch sử tin bài

Qua nghiên cứu các Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua, có thể nhận thấy một vài con số đáng chú ý như sau: Qua hoạt động thanh tra đã phát hiện 670 vụ với 1.815 đối tượng có hành vi tham nhũng nhưng chỉ chuyển cơ quan điều tra 274 vụ, 429 đối tượng có dấu hiệu tội phạm tham nhũng (tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng), cơ quan thanh tra đã ban hành 273.710 quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chỉ chuyển cơ quan điều tra hình sự 213 vụ, 330 đối tượng (tổng hợp từ Báo cáo tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng năm 2017 và 2018).

Việc xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng ít so với số vụ việc tham nhũng được phát hiện, xử lý trong khi xử lý hành chính nhiều được coi là biểu hiện của việc “xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu... một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm... gây tâm lý bức xúc và hoài nghi trong xã hội về quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta”[1]. Tuy nhiên, việc xử lý nghiêm minh hành vi tham nhũng luôn là một thách thức lớn khi mà chính sách, quy định về xử lý hành vi tham nhũng ở Việt Nam vẫn còn nhiều kẽ hở. Bài viết này sẽ làm rõ một số vấn đề đặt ra trong chính sách xử lý hành vi tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

 

Trước hết, hệ thống pháp luật Việt Nam và các hệ thống pháp luật ở một số quốc gia như Úc, Hồng Kông, Singapore, Indonesia... có một điểm khác biệt đáng lưu ý là tại các quốc gia này, mọi hình thức và mức độ tham nhũng đều bị coi là tội phạm, đã thực hiện hành vi tham nhũng thì sẽ bị xử lý về hình sự, các chế tài kỷ luật chỉ có ý nghĩa bổ sung cho việc áp dụng chế tài hình sự. Trong khi đó, ở Việt Nam, không phải hành vi tham nhũng nào cũng là tội phạm và bị xử lý hình sự. Việc xử lý hành vi tham nhũng còn có thể áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật hành chính, có nghĩa là tồn tại song song hai hình thức xử phạt chính là xử lý kỷ luật hành chính và hình sự tùy theo tính chất, mức độ của hành vi tham nhũng. Một nghiên cứu chỉ ra rằng: “Phạm vi điều chỉnh của Luật Phòng, chống tham nhũng có quy định cả “xử lý người có hành vi tham nhũng” nhưng nội dung Luật này lại không hề quy định những chế tài và biện pháp xử lý cụ thể, trực tiếp đối với người có hành vi tham nhũng. Việc xử lý hiện nay được dẫn chiếu tới các văn bản pháp luật hành chính và hình sự. Điều này khác biệt so với chính sách của nhiều quốc gia trên thế giới, đã thực hiện hành vi tham nhũng sẽ bị xử lý về hình sự”[2].

 

Các chế tài hình sự được quy định chi tiết trong Bộ Luật hình sự với những hình phạt nghiêm khắc đối với tội phạm về tham nhũng, hình phạt chính bao gồm phạt tù có thời hạn, phạt tù chung thân hoặc tử hình, một số hình phạt bổ sung như phạt tiền, tịch thu tài sản... Kỷ luật hành chính có thể được áp dụng với 5 hành vi tham nhũng được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 mà không được quy định trong Bộ Luật hình sự 2015, bao gồm: Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc không đầy đủ nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi. Các chế tài kỷ luật cụ thể được quy định trong các văn bản pháp luật hành chính, các Nghị định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức (Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức và Nghị định số 27/2012/NĐ-CP ngày 06/4/2012 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật viên chức và trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn của viên chức). Theo đó, cán bộ, công chức,  bị xem xét kỷ luật bởi một hội đồng do người đứng đầu cơ quan, đơn vị của cán bộ, công chức,  chỉ định tạm thời thông qua các cuộc họp và bỏ phiếu kín. Chủ tịch hội đồng là lãnh đạo cấp trưởng hoặc cấp phó. Các chế tài kỷ luật tương ứng với mức độ vi phạm như: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức, buộc thôi việc…

 

Việc tồn tại song song hai hình thức xử lý đã tạo ra những kẽ hở để bao che, nương nhẹ cho hành vi tham nhũng. Việc Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định thêm 5 hành vi tham nhũng mà Bộ Luật hình sự 2015 không quy định thành tội phạm tham nhũng dường như không hề có tác dụng trong việc răn đe và xử lý thêm nhiều hành vi tham nhũng mà còn tạo ra kẽ hở để một số hành vi đáng lẽ phải bị điều tra, xử lý hình sự theo quy định Bộ Luật hình sự thì có thể được chuyển hóa nhẹ đi thành 5 hành vi còn lại theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và xử lý theo các hình thức kỷ luật hành chính nhờ vào sự bao che của chính những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong phòng, chống tham nhũng. Ví dụ như hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (là tội phạm tham nhũng theo quy định tại Điều 353 Bộ Luật hình sự) và hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản công vì vụ lợi (là hành vi tham nhũng theo điểm i khoản 1, Điều 2 Luật PCTN nhưng không phải là tội phạm tham nhũng) có ranh giới rất mong manh trong xác định cấu thành tội phạm, hành vi trước có thể bị chuyển thành hành vi sau để tránh bị xử lý về hình sự, chỉ xử lý kỷ luật hành chính. Riêng hình thức xử lý kỷ luật hành chính như khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, cách chức và buộc thôi việc cũng tiềm ẩn những nguy cơ nương nhẹ. Cán bộ, công chức sẽ bị xem xét kỷ luật bởi một hội đồng do người đứng đầu cơ quan, đơn vị của người vi phạm chỉ định tạm thời thông qua các cuộc họp và bỏ phiếu kín. Chủ tịch hội đồng là lãnh đạo cấp trưởng hoặc cấp phó. Tuy nhiên, hội đồng kỷ luật trong nội bộ có thể có dẫn tới tình trạng nể nang do có mối quan hệ cá nhân, thân quen, bao che do đã từng nhận được lợi ích từ phía người thực hiện hành vi tham nhũng, nhất là khi tham nhũng trong tổ chức thường do các mối quan hệ nhóm lợi ích đan xen phức tạp và mang tính tập thể.

 

Những bất cập trong chính sách xử lý hành vi tham nhũng đã phần nào dẫn tới thực tế từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 được ban hành cho tới năm 2015, hầu như các nỗ lực chống tham nhũng đã không đem lại được tác dụng gì thật đột phá, Đảng ta đã thừa nhận: “công tác phát hiện, xử lý tham nhũng chưa đáp ứng yêu cầu; số vụ việc, vụ án tham nhũng được phát hiện còn ít. Một số vụ việc xử lý còn kéo dài, chưa nghiêm… Nhiều vụ việc, vụ án có quy mô lớn chậm được phát hiện, khi phát hiện thì chậm kết luận và xử lý”[3], còn tình trạng “một số vụ việc đình chỉ vụ án, đình chỉ bị can, miễn trách nhiệm hình sự chưa đúng quy định của pháp luật; việc thay đổi sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc không phải tội dah về tham nhũng vẫn còn xảy ra; tỷ lệ án treo trong các vụ án tham nhũng đang có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao”[4], “lợi dụng các quy định của pháp luật chưa chặt chẽ để xử lý hành vi tham nhũng bằng biện pháp kỷ luật hành chính hoặc áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ để xử phạt dưới khung hình phạt hoặc hưởng án treo, phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ[5]. Một số vụ án tham nhũng, Tòa án quyết định hình phạt nhẹ hoặc lợi dụng các tình tiết về nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có thành tích xuất sắc, bồi thường thiệt hại, gia đình có công... để cho bị cáo hưởng án treo thiếu thuyết phục, kể cả với trường hợp là chủ mưu, cầm đầu[6].

 

Bên cạnh đó, hành vi làm giàu bất chính không được quy định trong Luật Phòng, chống tham nhũng hoặc trong Bộ luật hình sự là hành vi tham nhũng. Việc hình sự hóa hành vi này với tư cách là một tội phạm về tham nhũng là khuyến nghị của Công ước của Liên hợp quốc nhưng Việt Nam lại bảo lưu điều khoản này khi phê chuẩn UNCAC. Những lí do thường được các nhà hoạch định chính sách phòng, chống tham nhũng đưa ra là quy định này không phù hợp với bối cảnh pháp lý và thực tiễn ở Việt Nam khi rất khó để xác định nguồn gốc của tài sản, thu nhập, phương thức thanh toán của Việt nam chủ yếu là bằng tiền mặt và văn hóa gia đình nhiều thế hệ trong đó tài sản không được chia tách rõ ràng cho từng cá nhân. Nguyên tắc “suy đoán vô tội” cũng được nêu ra là lý do của việc bảo lưu khuyến nghị trên. Nhưng có thể thấy rằng, một số yếu tố này cũng đã diễn ra ở các quốc gia và lãnh thổ khác như Hồng Kong, Singapore cách đây chưa lâu nhưng họ đã tỏ rõ quyết tâm trong cuộc chiến này thông qua việc hình sự hóa hành vi làm giàu bất chính hoặc có những biện pháp mạnh mẽ cho việc thu hồi tài sản tham nhũng. Chính vì vậy, hiệu lực, hiệu quả thực hiện của biện pháp thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam còn hạn chế, tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng tuy hằng năm đều tăng nhưng vẫn còn thấp hơn nhiều so với số tài sản bị chiếm đoạt.

 

Từ năm 2005 đến năm 2018, tổng cộng các vụ án, vụ việc tham nhũng gây thiệt hại 66.275 tỷ đồng, 4.377.895 m2 đất nhưng chỉ thu hồi được 7.373 tỷ đồng, 2.200.300 m2 đất, kê biên 35 bất động sản, 03 căn nhà, 8 xe ô tô, phong tỏa 67.862 cổ phiếu. Tài sản tham nhũng trong một số vụ án bị tẩu tán, không thu hồi được do không phát hiện, truy tìm được tài sản, quá trình điều tra kéo dài, đối tượng phạm tội tẩu tán tinh vi dưới nhiều cách thức khác nhau. Quá trình xét xử thường chú trọng nhiều phần trách nhiệm hình sự của bị cáo mà chưa quan tâm đúng mức đến phần trách nhiệm dân sự và việc xử lý tang, tài vật.[7]

 

 

 Không thể phủ nhận những chuyển biến tích cực trong công tác xử lý hành vi tham nhũng thời gian 3 năm gần đây, với một loạt các vụ án lớn và nghiêm trọng, các quan chức cấp cao bị đưa ra xét xử. Nhưng điều này dường như không phải do pháp luật được sửa đổi chặt chẽ hơn mà do sự chỉ đạo quyết liệt, trực tiếp của Đảng, sự vào cuộc của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đảng đã ban hành Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 07/12/2015 của Ban chấp hành Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng. Đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp chỉ đạo Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và đã có những tuyên bố thể hiện sự cương quyết trong việc xử lý tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Sau những động thái quyết liệt đó, nhiều vụ án tham nhũng lớn được đưa ra xét xử nghiêm minh và lấy lại niềm tin trong dư luận trong những năm từ 2016.  tới 2019 như vụ án Đinh La Thăng (nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải), Trịnh Xuân Thanh (nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang), vụ án Phan Văn Vĩnh (nguyên Trung tướng, Tổng Cục trưởng), Nguyễn Thanh Hóa (nguyên Thiếu tướng, Cục trưởng) bảo kê tổ chức đánh bạc ở Phú Thọ…

 

Chính vì vậy, thời gian tới, chính sách, quy định liên quan đến xử lý hành vi tham nhũng cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng chặt chẽ hơn để tăng hiệu lực, hiệu quả thực thi pháp luật thực định đối với việc xử lý hành vi tham nhũng, giảm dần sự lệ thuộc vào chỉ đạo trực tiếp của Đảng, tỏ rõ hơn nữa quyết tâm của Việt Nam trong cuộc chiến chống lại vấn nạn này. Sửa đổi nên theo các hướng sau đây:

 

Trước hết, cần áp dụng chế tài xử lý hình sự đối với mọi hành vi tham nhũng, các biện pháp xử lý kỷ luật đối với hành vi tham nhũng cần được áp dụng như một hình thức bổ sung chứ không phải hình phạt chính đối với một số hành vi tham nhũng theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng như hiện nay. Giải pháp này được áp dụng sau khi “như hiện nay. Giảũng phải được quy định thống nhất trong Bộ Luật Hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan” theo iên quan” ầu của 50-CT/TW ngCT/TWn quan” Giủa Bộ ChCT/TWnị về việc tCT/TWnờng sự l sT/Tạo của cảng sối với csT/TWn qphát hiện, xử l xTụ việc, vụ , vT/TWn qũng. Thống nhất một biện pháp xử lý đối với hành vi tham nhũng là xử lý hình sự với các mức độ khác nhau để tạo ra tính răn đe đối với hành vi tham nhũng và xóa bỏ các kẽ hở, hạn chế tạo ra bởi hình thức xử lý kỷ luật nội bộ do sự nể nang, né tránh, bao che lẫn nhau, khắc phục tình trạng “hành vi tham nhũng có dấu hiệu tội phạm, nhưng chỉ xử lý kỷ luật hành chính, kinh tế” theo yêu cầu của Chỉ thị 50-CT/TW ngheo yêu cầu . Các hành vi khác có liên quan không được quy định là hành vi tham nhũng thì cần phải thể chế hóa vào các quy tắc ứng xử của cBCC ộ, cC c haức hoặc quy định về phòng ngừa xung đột lợi ích để có hình thức xử lý kỷ luật cho phù hợp. Có như vậy, việc xử lý các hành vi tham nhũng mới đảm bảo tính nghiêm minh về lâu dài.

 

Thứ hai, hành vi tham nhũng, tội phạm tham nhũng mang tính đặc thù, nó không gây nguy hiểm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà chủ yếu gây nên thiệt hại trực tiếp về kinh tế, ảnh hưởng đến sự phát triển và ổn định về kinh tế, chính trị, xã hội nên chính sách xử lý cũng cần xem xét lại các chế tài, chú trọng hơn đến cách thức, biện pháp để thu hồi tài sản thất thoát do hành vi tham nhũng gây ra. Vì vậy, cần bổ sung hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tiền là hình phạt chính đối với một số tội phạm về tham nhũng nhằm thể chế hóa triệt để hơn chủ trương của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW ngh thần Nghị quyủa Bộ Chh thầnị về chiến liợc cải ci thần Nghị qến ni thần  lni hoàn thiện chính sách xử lý người phạm tội theo hướng giảm khả năng áp dụng hình phạt tù, mở rộng phạm vi thiệụng c thiện chíạt kh thiện chính sách xử ữ nhh tảnh c thiệnạt tiền, cải tạo kh thiện chínữ  ối với một số tội phạm chức vụ  vh thiện chọng hoặc nghihiện ọng cần bổ sung hiện chạt cải tạo khg hiện chínữ tại một số cấu thg hiện cản, nhằm tạo tnh hiện chíạt cho Tiện chính sách xử ụng ho Tiệnạt pho Tợp với từng tr ờng hợp cụ thể. Cần nghiên cứu tổng thể để tiến tới thể chế hoá quy định mang tính đột phá về việc tịch thu tài sản tham nhũng không dựa trên kết án hình sự. Theo đó, nghĩa vụ chứng minh nguồn gốc hợp pháp của thu nhập, tài sản thuộc về người bị tình nghi phạm tội. Tất cả những thu nhập, tài sản không thể giải trình thỏa đáng về nguồn gốc được coi là tài sản bất minh và phải được thu hồi./.

 

TS. Nguyễn Thị Thu Nga

                                                                                                           Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra

 



[1] Chỉ thị số 50-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng ngày 7 tháng 12 năm 2015

[2] Giáo sư Martin Painter, TS. Đào Lê Thu, Hoàng Mạnh Chiến, Nguyễn Quang Ngọc (2012), Cải cách hành chính và Chống tham nhũng và Loạt báo cáo nghiên cứu thảo luận chính sách, UNDP và UKAID

 3] Bộ chính trị (2015), Chỉ thị 50-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng

[4] Ban Nội chính Trung ương, Một số văn đề lý luận – thực tiễn 30 năm đổi mới về phòng, chống tham nhũng, lãnh phí (1986-2016), Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 104-105

[5] PGS.TS Trương Hồ Hải, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Dự báo tình hình, xác định những yêu cầu đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát trong phòng, chống tham nhũng của nhà nước

[6] Theo TS. Sỹ Hồng Nam, Thực trạng nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Tòa án nhân dân tối cao trong thực hiện chức năng xét xử liên quan đến phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

[7] Chính phủ (2016), Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Luật PCTN, Báo cáo tổng kết công tác PCTN năm 2016, năm 2017, năm 2018.

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: