Một số vấn đề về áp dụng pháp luật và xử lý đối với hành vi tham nhũng và hành vi vi phạm pháp luật khác về phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước    
Cập nhật: 11/06/2019 10:24
Xem lịch sử tin bài

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã mở rộng phạm vi phòng, chống tham nhũng ra khu vực ngoài nhà nước và giao cho Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều luật, trong đó có nội dung liên quan đến áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng và xử lý hành vi tham nhũng, hành vi vi phạm pháp luật khác về phòng, chống tham nhũng.

Tuy nhiên, phạm vi áp dụng pháp luật và việc xử lý vi phạm trong khu vực ngoài nhà nước là có giới hạn, không rộng như phòng, chống tham nhũng trong khu vực nhà nước. Vấn đề đặt ra là xác định mức độ áp dụng pháp luật và việc xử lý vi phạm phải phù hợp với thực tiễn.

1. Trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Một trong những điểm mới cơ bản của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 so với là những quy định liên quan đến Phòng, chống tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định theo phương pháp loại trừ và chỉ giới hạn áp dụng đối với các doanh nghiệp, tổ chức không phải là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước và tổ chức, đơn vị khác do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp phát toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động, do Nhà nước trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý nhằm phục vụ nhu cầu phát triển chung, thiết yếu của Nhà nước và xã hội.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã dành riêng một chương quy định phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp và tổ chức khu vực ngoài nhà nước, trong đó tập trung vào vấn đề xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, không tham nhũng và áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Trước hết, doanh nghiệp và tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm chung trong phòng, chống tham nhũng, cụ thể là phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kịp thời phát hiện, phản ánh và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý tham nhũng xảy ra trong doanh nghiệp, tổ chức mình theo quy định của pháp luật và điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức; kịp thời cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý tham nhũng[1]. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 quy định khuyến khích doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp ban hành quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc đạo đức nghề nghiệp đối với người lao động, thành viên, hội viên của mình. Đây là những chuẩn mực ứng xử phù hợp với đặc thù chuyên môn, nghề nghiệp của người hành nghề, người hoạt động kinh doanh nhằm bảo đảm liêm chính trong hành nghề, kinh doanh. Đồng thời, doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác ban hành, thực hiện quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa xung đột lợi ích, ngăn chặn hành vi tham nhũng và xây dựng văn hóa kinh doanh lành mạnh, không tham nhũng. Hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề có trách nhiệm tổ chức, động viên, khuyến khích thành viên, hội viên xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, không tham nhũng; giám sát việc chấp hành pháp luật về phòng, chống tham nhũng của thành viên, hội viên, tích cực tham gia vào việc hoàn thiện chính sách, pháp luật.

Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp, tổ chức còn bắt buộc phải thực hiện nghiêm túc một số biện pháp phòng, chống tham nhũng cụ thể. Điều này được quy định tại Điều 80 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018. Theo đó, công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện phải thực hiện các quy định về những nội dung sau:

- Nguyên tắc công khai, minh bạch, nội dung công khai, minh bạch, hình thức công khai, trách nhiệm thực hiện việc công khai, minh bạch quy định tại Điều 9, các điểm a, c và d khoản 1 Điều 10, Điều 11 và Điều 12 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

- Kiểm soát xung đột lợi ích quy định tại Điều 23 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018;

- Trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu quy định tại Điều 72, các điểm a, b và d khoản 3, Điều 73 của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

2. Xử lý hành vi tham nhũng và hành vi vi phạm pháp luật khác về phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước

Cùng với việc mở rộng phạm vi trách nhiệm và áp dụng các các biện pháp phòng, chống tham nhũng đối với các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 còn quy định hành vi tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật khác về phòng, chống tham nhũng trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước có thể bị xử lý.

Trước hết, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã phân định các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước và hành vi tham nhũng khu vực ngoài nhà nước. Về cơ bản, các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước được quy định trên cơ sở kế thừa các quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 và bảo đảm sự thống nhất với Bộ luật hình sự năm 2015, bao gồm 12 hành vi tham nhũng (quy định tại khoản 1, Điều 2 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018). Riêng đối với khu vực ngoài nhà nước, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 chỉ quy định có 4 hành vi, phân thành 3 khoản, bao gồm:

- Tham ô tài sản;

- Nhận hối lộ;

- Đưa hối lộ, môi giới hối lộ để giải quyết công việc của doanh nghiệp, tổ chức mình vì vụ lợi[2].

Bên cạnh đó, cũng quy định việc xử lý các hành vi vi phạm phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị nói chung. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng là những hành vi không phải là hành vi tham nhũng mà chủ yếu là các hành vi vi phạm các quy định về việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, cụ thể là:

- Vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ;

- Vi phạm quy định về quy tắc ứng xử;

- Vi phạm quy định về xung đột lợi ích;

- Vi phạm quy định về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn;

- Vi phạm quy định về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng;

- Vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm;

- Vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập[3].

Về  mức độ xử lý nói chung, người có hành vi quy định trên đây (trừ vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm - hiện chưa có hướng dẫn) thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Đối với người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét áp dụng tăng hình thức kỷ luật. Người có hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật nếu là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội thì còn bị xử lý theo điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức đó. Đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước tuy không thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng, chống tham nhũng như đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị khu vực nhà nước nhưng cũng phải thực hiện một số biện pháp phòng, chống tham nhũng như quy định tại Điều 80 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

3. Một số kiến nghị đối với việc hướng dẫn thi hành

Với quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 về áp dụng pháp luật phòng, chống tham nhũng và xử lý vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, cần tiếp tục có những quy định hướng dẫn cụ thể để bảo đảm thực hiện theo hướng sau:

Thứ nhất, cần quy định hướng dẫn về thẩm quyền, mức phạt, trình tự, thủ tục phát hiện và mức phạt đối với các hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước.

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 mới chỉ quy định doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm tự kiểm tra để kịp thời phát hiện, xử lý và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức mình. Cơ quan thanh tra khi tiến hành hoạt động thanh tra nếu phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện hành vi tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm phản ánh, tố cáo, báo cáo theo quy định tại Mục 3 Chương III của Luật Phòng, chống tham nhũng. Vấn đề đặt ra cần làm rõ là thẩm quyền và hình thức xử lý như thế nào khi hành vi tham nhũng bị phát hiện, đặc biệt là thẩm quyền xử lý đối với hành vi tham nhũng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Đối với hành vi tham nhũng của cá nhân trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước bị phát hiện mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì không thể xử lý kỷ luật như áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong khu vực nhà nước mà chỉ có thể xử phạt hành chính đối với các hành vi vi phạm này. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt hành chính hiện được giao cho rất nhiều chủ thể và dựa trên nguyên tắc gắn với thẩm quyền quản lý. Với lĩnh vực phòng, chống tham nhũng, hành vi tham nhũng trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước xâm phạm đến trật tự kinh doanh và hoạt động của các các tổ chức xã hội, do đó, nên giao thẩm quyền xử phạt cho Ủy ban nhân dân và cơ quan quản lý lĩnh vực kinh doanh, tổ chức xã hội, các cơ quan thanh tra nhà nước thuộc bộ, sở quản lý chuyên ngành về lĩnh vực kinh doanh và tổ chức xã hội.

Về mức phạt, do tính chất nguy hiểm của hành vi vi phạm với các mức độ khác nhau, nên chăng, cần có sự phân biệt về mức tiền phạt giữa các hành vi tham ô tài sản, hành vi nhận hối lộ với hành vi đưa hối lộ, môi giới hối lộ.

Về trình tự, thủ tục xử phạt hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước, ngoài việc áp dụng các quy định chung về xử lý vi phạm hành chính, cần có một số quy định đặc thù áp dụng cho việc xử phạt đối với hành vi tham nhũng.

Thứ hai, quy định cụ thể cơ chế thanh tra, xử phạt đối với các doanh nghiệp, tổ chức vi phạm trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

Điều 81 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã quy định cơ chế thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Theo đó, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ, Thanh tra tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, đối với tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện khi có dấu hiệu rõ ràng về việc vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật Phòng, chống tham nhũng. Để thực hiện được  quy định này, cần có quy định làm cơ sở để xác định được “dấu hiệu rõ ràng về việc vi phạm” làm căn cứ tiến hành thanh tra và bảo đảm trình tự, thủ tục thanh tra việc thực hiện pháp luật về phòng, chốn tham nhũng phải tuân thủ quy định của pháp luật về thanh tra.

Bên cạnh đó, do việc vi phạm các quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng của các công ty đại chúng, tổ chức tín dụng, đối với tổ chức xã hội chủ yếu xâm phạm đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và hoạt động của các tổ chức xã hội, vì vậy, nên giao thẩm quyền xử phạt vi phạm cho các cơ quan quản lý có thẩm quyền chung và cơ quan quản lý chuyên ngành đối với các hoạt động doanh nghiệp, tổ chức đó.

Ngoài ra, để bảo đảm việc xử lý đối với hành vi tham nhũng và vi phạm pháp luật khác về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức có tính giáo dục và góp phần nâng cao nhận thức của toàn xã hội, cần phải tổng hợp và công khai nội dung và kết quả xử lý./.



[1] Khoản 2 Điều 4 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

[2] Khoản 2 Điều 2 Luật PCTN năm 2018

[3] Khoản 1 Điều 94 Luật PCTN năm 2018

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: