Một số vấn đề về bảo vệ người tố cáo tham nhũng    
Cập nhật: 20/08/2019 02:47
Xem lịch sử tin bài

Theo cách hiểu thông thường, tố cáo là việc công dân đưa ra những thông tin về một hành vi, vụ việc sai phạm nào đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, công khai hoặc bí mật; hoặc những thông tin về hiện tượng có dấu hiệu vi phạm theo cảm nhận chủ quan của mình khi biết sự việc. Khi tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi tham nhũng nói riêng, người tố cáo tin rằng hành vi, việc làm bị tố cáo là sai phạm hoặc có biểu hiện sai phạm.

1. Quan niệm, đặc điểm về bảo vệ người tố cáo tham nhũng

1.1. Về tố cáo tham nhũng

Theo cách hiểu thông thường, tố cáo là việc công dân đưa ra những thông tin về một hành vi, vụ việc sai phạm nào đó một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, công khai hoặc bí mật; hoặc những thông tin về hiện tượng có dấu hiệu vi phạm theo cảm nhận chủ quan của mình khi biết sự việc. Khi tố cáo hành vi vi phạm pháp luật nói chung, hành vi tham nhũng nói riêng, người tố cáo tin rằng hành vi, việc làm bị tố cáo là sai phạm hoặc có biểu hiện sai phạm. Người tố cáo có bằng chứng xác thực để chứng minh cho nội dung tố cáo nhưng cũng có thể họ không có bằng chứng mà chỉ có niềm tin hoặc lầm tưởng rằng đó là hành vi vi phạm nên đã thực hiện tố cáo với ý nghĩ tích cực.

Theo Điều 2, Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Điều 2, Luật tố cáo năm 2011, “tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định, báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”.

Theo khoản 1, Điều 2 Luật tố cáo năm 2018: Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm:

a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ;

b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực”

Về góc độ xã hội, tố cáo thường hướng vào những hành vi, việc làm trái với luân thường đạo lý, vi phạm quy tắc, điều lệ của tổ chức, đoàn thể nên hậu quả không mang tính pháp lý, người bị tố cáo có thể bị tổ chức, đoàn thể lên án, xa lánh mà không phải gánh chịu hậu quả pháp lý. Tuy nhiên, ở góc độ khoa học pháp lý, tố cáo phải được tiếp cận hướng vào những hành vi, việc làm trái pháp luật xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nên người bị tố cáo có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi tùy theo tính chất của quan hệ pháp luật, tầm quan trọng của khách thể được Nhà nước bảo vệ và mức độ nguy hiểm của hành vi. Trong đó, hành vi được xác định là hành vi tham nhũng, tức là hành vi trái pháp luật của người có chức vụ, quyền hạn, là những hành vi không được thực hiện nhưng người có chức vụ, quyền hạn đã thực hiện để vụ lợi. Việc tố cáo và giải quyết tố cáo dạng này được thực hiện theo quy định của pháp luật.

1.2. Về bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Người tố cáo được hiểu theo nghĩa thông dụng nhất là người trên cơ sở những chứng lý hoặc căn cứ đã vạch trần hành vi sai phạm, vô đạo đức hay vi phạm pháp luật (gọi chung là sai phạm) của một cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào đó với cá nhân hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền, trách nhiệm (gọi chung là nhà chức trách) để xem xét, xử lý.

Người tố cáo trước hết phải là người biết được hành vi của một chủ thể nào đó và có căn cứ cho rằng hành vi đó là sai phạm, đồng thời phải báo với nhà chức trách để điều tra, kết luận và xử lý theo pháp luật của nhà nước hay nội quy, quy chế, điều lệ riêng của cơ quan, tổ chức. Người tố cáo có thể là người trong cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị với chủ thể bị tố cáo hoặc người không thuộc nội bộ cơ quan, tổ chức, đơn vị đó.

Bảo vệ một người đơn giản được hiểu là bảo đảm an toàn cho người đó. Bảo vệ người tố cáo không chỉ là bảo vệ bản thân người tố cáo mà bao gồm bảo vệ người thân thích của người tố cáo, tài sản của người tố cáo, danh dự, nhân phẩm và việc làm của người tố cáo. Thuật ngữ bảo vệ người tố cáo có thể được hiểu đó là hành động ngăn chặn những hành vi đe dọa, trả thù hay trù dập, phân biệt đối xử bất bình đẳng (gọi chung là trả thù) người tố cáo bởi những đối tượng bị tố cáo hoặc chống lại những rủi ro pháp lý mà người tố cáo có thể phải gánh chịu để giữ cho sự nguyên vẹn và an toàn về tính mạng, sức khỏe, tình trạng việc làm, trạng thái tâm lý và các quyền lợi khác sau khi có hành động tố cáo.

Chủ thể thực hiện quyền tố cáo là cá nhân. Giữa nhà nước và cá nhân là mối quan hệ pháp lý - chính trị trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của cá nhân đối với nhà nước và ngược lại. Khi một người tố cáo tham nhũng tức là đã thiết lập mối quan hệ pháp lý với Nhà nước thông qua thực hiện các thủ tục pháp lý nhất định với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được Nhà nước trao quyền hạn và nghĩa vụ pháp lý tương ứng với chức năng được giao.

Về phía người tố cáo, cá nhân đó thực hiện quyền và nghĩa vụ trong việc thông tin với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm vạch trần sai phạm của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vụ lợi. Hành vi thông tin, vạch trần sai phạm của người khác, nhất là với người có chức vụ, quyền hạn với cơ quan chức năng và dư luận thể hiện sự dũng cảm, dám đấu tranh của người tố cáo trước các hiện tượng tiêu cực. Hành vi tố cáo đó có thể khiến người tố cáo có nguy cơ đối mặt với những rủi ro như bị trù dập, trả thù, đe dọa về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Rủi ro đó rất cần có sự bảo vệ từ phía cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Theo đó, bảo vệ người tố cáo tham nhũng là tổng thể các hoạt động của cá nhân, cơ quan, tổ chức được nhà nước trao quyền nhằm ngăn chặn, xử lý các hành vi đe dọa, trả thù của người bị tố cáo đối với người tố cáo hoặc người thân thích của người tố cáo; đồng thời khôi phục lại quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo và bồi thường thiệt hại cho người bị trả thù (nếu có); miễn, giảm trách nhiệm cho người tố cáo khi họ phải chịu trách nhiệm pháp lý từ việc thực hiện quyền tố cáo.

Như vậy, có thể thấy, chủ thể bảo vệ người tố cáo tham nhũng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được pháp luật quy định, không chỉ bao gồm các cơ quan hành chính nhà nước mà còn có sự tham gia của các cơ quan tư pháp và ở phạm vi rộng hơn còn bao gồm các thiết chế xã hội như báo chí hay các tổ chức xã hội mà người tố cáo là thành viên của tổ chức đó như Mặt trận tổ quốc, tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên; tuy nhiên, trách nhiệm chính vẫn thuộc về người giải quyết tố cáo; Đối tượng bảo vệ người tố cáo không chỉ có người tố cáo mà còn cả những người thân thích của người tố cáo như vợ hoặc chồng, con cái, bố mẹ, anh em ruột thịt. Mục đích của việc bảo vệ người tố cáo nhằm bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người tố cáo; khuyến khích, động viên người dân dũng cảm đấu tranh chống lại các hành vi vi phạm pháp luật, giúp các cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật. Bảo vệ người tố cáo thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do nhân dân và vì nhân dân.

2. Vai trò của bảo vệ người tố cáo tham nhũng

Thứ nhất, bảo vệ người tố cáo tham nhũng góp phần bảo vệ quyền công dân, quyền con người. Quyền tố cáo của công dân sớm được ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật. Bảo vệ người tố cáo trước hết là bảo vệ quyền công dân, đảm bảo cho quyền tố cáo được thực thi có hiệu quả trên thực tế. Đồng thời bảo vệ người tố cáo cũng là bảo vệ quyền công dân, các quyền khác của con người như quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền được sống, quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, quyền có việc làm...

Thứ hai, bảo vệ người tố cáo tham nhũng góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Như trên đã đề cập, tố cáo ngày càng được thừa nhận như một trong những công cụ hữu hiệu nhất trong đấu tranh chống tham nhũng nói riêng và đấu tranh chống mọi biểu hiện sai trái nói chung. So với các công cụ khác như thanh tra, kiểm tra, giám sát; tố cáo là một nguồn thông tin quan trọng, hiệu quả và ít tốn kém trong việc điều tra, phát hiện các tiêu cực xảy ra trong hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội. Để củng cố và phát huy hiệu quả công cụ này, nhà nước phải đặc biệt quan tâm bảo vệ an toàn cho người cung cấp các thông tin có dấu hiệu vi phạm pháp luật với cơ quan thực thi pháp luật, tạo cảm giác tin tưởng, yên tâm cho họ. Có như vậy, nhà nước mới có thể thu thập được những thông tin phản ánh độ chính xác cao của các biểu hiện sai trái để từ đó sàng lọc, nắm bắt điều tra vụ việc.

Thứ ba, bảo vệ người tố cáo góp phần củng cố niềm tin của công dân đối với nhà nước, pháp luật, đồng thời khuyến khích họ tích cực tham gia việc kiểm tra, giám sát mọi hoạt động cơ quan nhà nước, đấu tranh chống lại mọi hành vi vi phạm pháp luật, góp phần bảo vệ tính tối thượng của pháp luật trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nếu pháp luật không bảo vệ tốt cho họ sẽ dẫn đến sự thờ ơ, vô cảm trước những hành vi tiêu cực xảy ra trong xã hội; thúc đẩy sự lộng quyền, lạm dụng quyền lực và quan trọng hơn là họ sẽ mất niềm tin vào sự quản lý của nhà nước, hiệu lực thực thi của pháp luật.

3. Những yếu tố bảo đảm thực hiện bảo vệ người tố cáo tham nhũng

3.1. Yếu tố nhận thức

Trước hết, nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng phải bắt đầu từ quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước. Quyết tâm chính trị đó phải được thể hiện bằng quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các chủ trương, chính sách đúng đắn, kịp thời, phù hợp của Đảng về khuyến khích mọi công dân thực hiện quyền cơ bản của mình trong tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, góp phần xây dựng nhà nước trong sạch. Bên cạnh đó, cần tạo sự chuyển biến căn bản về tư tưởng, nhận thức sâu sắc của cán bộ, công chức trong cơ quan, tổ chức nhà nước về tác hại của tham nhũng; vai trò quan trọng của tố cáo tham nhũng; ý nghĩa của công tác bảo vệ người tố cáo tham nhũng... Trong đó, nâng cao ý thức để đề cao vai trò, trách nhiệm, sự tiên phong, gương mẫu của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong quá trình thực hiện; chịu trách nhiệm cá nhân nếu để xảy ra việc trả thù người tố cáo tham nhũng.

3.2. Yếu tố cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý là yếu tố quan trọng bảo đảm việc bảo vệ người tố cáo tham nhũng được thực hiện trên thực tế. Nếu không có quy định pháp luật, việc bảo vệ người tố cáo sẽ không có cơ sở. Theo đó, pháp luật trước hết phải quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức cá nhân có liên quan trong việc bảo vệ người tố cáo; quy định rõ quyền và nghĩa vụ của người tố cáo được bảo vệ; trình tự, thủ tục pháp lý, các biện pháp và điều kiện vật chất, kỹ thuật bảo đảm để người dân thực hiện quyền của mình và cơ quan nhà nước thực hiện nghĩa vụ của họ. Đồng thời, pháp luật phải có chế tài xử lý cụ thể, rõ ràng đối với cơ quan, tổ chức, người vi phạm các quy định về bảo vệ người tố cáo … Quy định pháp luật về những nội dung này phải rõ ràng, ngoài quy định mang tính nguyên tắc trong Luật thì cần phải có sự hướng dẫn thực hiện chi tiết, cụ thể, hạn chế quy định mang tính chất định tính, chung chung.

Về thẩm quyền, nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo nếu được quy định giao cho nhiều cơ quan khác nhau và được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau có thể dẫn đến tình trạng đùn đẩy, né tránh trách nhiệm và quá trình áp dụng sẽ phải dẫn chiếu nhiều văn bản, khó theo dõi và áp dụng với đối tượng. Do vậy, quy định pháp luật về thẩm quyền phải được xác định rõ ràng với quyền hạn và nhiệm vụ cụ thể, minh định để có thể gắn được trách nhiệm pháp lý khi có vi phạm xảy ra.

Về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo, nếu quy định nặng về trách nhiệm của người tố cáo, thiếu quan tâm tới quyền của người tố cáo cùng với sự hạn chế trong nhận thức và tinh thần trách nhiệm của cán bộ, công chức khiến việc bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam chưa thực sự được coi trọng.

Về trình tự, thủ tục, quy định về trình tự, thủ tục giải quyết tố cáo, trong đó có việc tiếp nhận, thụ lý, giải quyết yêu cầu bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền phải được thể hiện rõ, ít nhất là về nguyên tắc của các quy trình này. Ví dụ, việc tổ chức tiếp nhận, xử lý đơn thư và giải quyết tố cáo nếu do nhiều bộ phận khác nhau thực hiện thì việc giữ gìn bí mật thông tin của người tố cáo khó có thể được đảm bảo, từ đó đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện nghiêm túc các quy trình nghiệp vụ về tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo, trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân trong việc bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo. Có thể thấy, trình tự, thủ tục là vấn đề cần thiết nhằm đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ trong quá trình tổ chức thực hiện cũng như tính khả thi của cơ chế bảo vệ người tố cáo. Theo đó, pháp luật phải quy định rõ ràng về cách thức gửi yêu cầu; thời hạn tiếp nhận, giải quyết yêu cầu; hiệu lực thi hành quyết định bảo vệ; trường hợp khẩn cấp, người được bảo vệ có thể yêu cầu bảo vệ thông qua phương tiện thông tin liên lạc nào; thời hạn tiếp nhận, giải quyết yêu cầu bảo vệ... Quy định về trình tự, thủ tục phải trên nguyên tắc đơn giản, phù hợp với thực tiễn, tùy thuộc vào tính chất, nội dung bảo vệ và từng giai đoạn giải quyết của cơ quan nhà nước, tạo thuận lợi cho công dân thực hiện quyền được bảo vệ.

Về chế tài xử lý, các biện pháp cụ thể để bảo vệ người tố cáo bao gồm biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp kỹ thuật. Trong trường hợp nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền không bảo vệ được người đi tố cáo mà bản thân họ bị thiệt hại thì Nhà nước phải có chính sách đối với họ nhằm bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, phải có chế tài đối với hành vi trả thù, trù dập người tố cáo, trong đó cần lưu ý hoàn thiện các quy định pháp luật về xử phạt hành chính, xử lý kỷ luật, xử lý hình sự đối với những người có hành vi này.

3.3. Yếu tố tổ chức thực hiện

Một là, tổ chức cơ quan có thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo tham nhũng phải hợp lý, hiệu quả. Cơ quan thực hiện chức năng bảo vệ người tố cáo là cơ quan chịu trách nhiệm về việc bảo vệ người tố cáo. Pháp luật cần định danh và quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan này và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cùng các điều kiện để bảo đảm thực hiện chức năng bảo vệ người tố cáo. Trong các cơ quan này, yếu tố con người cũng cần được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn những kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản để có thể xử lý kịp thời, hiệu quả các trường hợp cần bảo vệ. Ngoài ra, cán bộ, công chức được giao nhiệm vụ trong các cơ quan đó phải có trách nhiệm, ý thức đạo đức nghề nghiệp, tuân thủ nguyên tắc mà pháp luật đã quy định như phải giữ bí mật cho người tố cáo; không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và các thông tin khác có hại cho người tố cáo khi tham gia vào quá trình tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo; có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc khẩn trương yêu cầu cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp để bảo vệ người tố cáo, người thân thích của người tố cáo, người cung cấp thông tin có liên quan đến việc…

Hai là, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, quán triệt các quy định về bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng; gắn với việc tuyên truyền sâu rộng tới mọi tầng lớp nhân dân các quy định của pháp luật về tố cáo, cơ chế bảo vệ người tố cáo, đặc biệt là quy định về vai trò, trách nhiệm của xã hội và mỗi công dân trong phòng, chống tham nhũng. Bởi lẽ, nếu các kênh thông tin để công dân tìm hiểu, nắm bắt được quy định pháp luật về tố cáo, nhất là quyền và nghĩa vụ của người tố cáo … không đa dạng, phong phú hay các phương thức để công dân giám sát, phát hiện và lên tiếng không rõ ràng, kém hiệu quả... thì người dân sẽ không thể biết quyền lợi của họ hoặc cách thức thực hiện các quyền của họ khi tố cáo tham nhũng được bảo vệ như thế nào.

Ba là, tăng cường cơ chế phối hợp giám sát của các cơ quan quyền lực, cơ quan nhà nước và xã hội đối với việc thực hiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo tham nhũng theo một cơ chế vận hành thống nhất. Việc giám sát này nhằm mục đích nâng cao năng lực quản lý, điều hành, bảo đảm việc thực hiện các chức trách, nhiệm vụ bảo vệ người tố cáo tham nhũng được đúng đắn; phát hiện được những hạn chế, bất cập để có điều chỉnh kịp thời. Để bảo vệ người tố cáo tham nhũng được hiệu quả, cần thiết phải tăng cường sự tham gia của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân bằng một thiết chế liên kết với nhau tác động mạnh vào các mặt đời sống xã hội. Đa dạng hóa công tác giám sát của các tổ chức đoàn thể và nhân dân; đổi mới và nâng cao chất lượng giám sát đối với các hoạt động giải quyết tố cáo và bảo vệ người tố cáo thông qua các hình thức tiếp xúc cử tri, đối thoại trực tiếp, chất vấn, tranh luận, kiến nghị, tư vấn, phản biện, dư luận xã hội... Đồng thời, tạo điều kiện để tổ chức tư vấn pháp luật, cơ quan báo chí được tham gia ngay từ đầu việc thực hiện hành vi tố cáo, giải quyết tố cáo. Qua đó, vừa theo dõi, giám sát cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vừa giúp đỡ, hỗ trợ, tư vấn cho người tố cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình để được bảo vệ kịp thời.

Thứ tư, yếu tố về cơ sở vật chất

Vì tham nhũng là nguy cơ lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ, do đó việc phòng, chống tham nhũng đòi hỏi phải có những công cụ đặc thù hơn so với phòng, chống các vi phạm pháp luật khác. Hơn nữa, tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, có quan hệ rộng, có trình độ che giấu vi phạm… do đó người tố cáo tham nhũng, cung cấp thông tin để giải quyết tố cáo tham nhũng có thể gặp rất nhiều khó khăn mà nếu không có chế độ bảo vệ xứng đáng thì khó tạo động lực để họ dũng cảm tố cáo tham nhũng.

Theo đó, lực lượng, phương tiện, cơ sở vật chất, tài chính phục vụ cho bảo vệ người tố cáo phải được quy định minh bạch, rõ ràng, cụ thể làm cơ sở cho việc tổ chức công tác bảo vệ người tố cáo tham nhũng phát huy được tính hiệu quả, tích cực trong thực tiễn. Trong bảo vệ người tố cáo, việc bảo đảm điều kiện về ngân sách và cơ sở vật chất cho hoạt động bảo vệ gồm: kinh phí, quỹ khen thưởng trang bị công cụ hỗ trợ, trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, trụ sở và điều kiện vật chất, kỹ thuật khác cho hoạt động bảo vệ người tố cáo tham nhũng phải được ưu tiên bố trí giải quyết.

 ThS. Phạm Thị Thu Hiền

Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: