Một số vấn đề về cơ chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay    
Cập nhật: 28/09/2020 10:08
Xem lịch sử tin bài

Theo thông tin từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2019, đến thời điểm 31/12/2018 khu vực kinh tế nhà nước có 2.486 doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, trong số này, 1.204 doanh nghiệp là do Nhà nước sở hữu 100% vốn, chiếm 48,43% (1) .

So sánh một số chỉ số về quy mô cho thấy doanh nghiệp nhà nước vượt trội hắn. So với khu vực kinh tế FDI và ngoài nhà nước, cụ thể, số lượng lao động bình quân của một doanh nghiệp nhà nước là 482,70 người, trong khi đó ở khu vực FDI và ngoài nhà nước con số tương ứng là 273,09 và 16,24. Tổng tài sản của một doanh nghiệp nhà nước gấp khoảng 10,5 lần doanh nghiệp FDI, và khoảng 118 lần doanh nghiệp ngoài nhà nước. Tuy vậy, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước lại trái ngược với quy mô ấn tượng của mình. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp nhà nước, từ lâu đã được nhìn nhận là thấp so với nguồn lực được đầu tư. Chỉ số doanh thu/vốn của doanh nghiệp nhà nước là 0,33, chỉ bằng một nửa chỉ số tương ứng của doanh nghiệp ngoài nhà nước và một phần ba của doanh nghiệp FDI[1].

 

Không chỉ hoạt động kém hiệu quả, tình trạng nợ nần, thua lỗ, thất thoát lớn còn xảy ra ở nhiều doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Nhiều sai phạm của doanh nghiệp nhà nước chậm được phát hiện và xử lý, đến khi được phát hiện và xử lý thì hậu quả đã rất nặng nề. Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình quản lý, sử dụng vốn Nhà nước, riêng trong giai đoạn 2011-2016, Thanh tra Chính phủ ban hành kết luận 19 cuộc thanh tra tại các doanh nghiệp Nhà nước, tập trung tại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Qua 19 kết luận thanh tra, Thanh tra Chính phủ đã phát hiện sai phạm số tiền 345.869 tỷ đồng, 48,3 triệu USD, 303.920 EURO. Tổng số tiền phát hiện sai phạm gần 347.000 tỷ đồng. Kiến nghị thu hồi về ngân sách Nhà nước gần 1.038 tỷ đồng, 31.812 USD, xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán và đề nghị cơ quản có thẩm quyền xem xét, xử lý số tiền trên 344.831 tỷ đồng, 48,3 triệu USD, 303.920 EURO[2]. Thời gian gần đây, nhiều vụ việc sai phạm nghiêm trọng trong doanh nghiệp nhà nước tiếp tục được phát hiện và xử lý.

 

Nhận thấy những hạn chế, yếu kém lớn trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị quyết, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết về đổi mới, sắp xếp doanh nghiệp, tăng cường quản lý việc sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại doanh nghiệp, đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước như: Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2017 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết số 97/NQ-CP ngày 02/10/2017 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 12; Nghị quyết 60/2018/QH14 ngày 15/6/2018 của Quốc hội về tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước; Nghị quyết 73/NQ-CP ngày 23/9/2019 của Chính phủ ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 60/2008. Các văn bản này đã chỉ rõ những dạng thức sai phạm lớn của doanh nghiệp nhà nước, đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những sai phạm đó bắt nguồn từ những bất cập, hạn chế trong cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước, trong giám sát, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán doanh nghiệp nhà nước và các thiết chế kiểm soát khác đối với doanh nghiệp nhà nước.

 

1. Khái quát các thiết chế kiểm soát đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

 

Theo Từ điển Tiếng Việt, “kiểm soát là xem xét để phát hiện sai sót, giữ cho mọi việc diễn ra đúng đắn”[3]. Cơ chế kiểm soát đối với một đối tượng cụ thể bao gồm các thiết chế kiểm soát đối tượng và cách thức vận hành của các thiết chế đó. Qua rà soát các quy định hiện hành về doanh nghiệp nhà nước, có thể xác định những thiết chế kiểm soát chủ yếu đối với doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay gồm có:

 

Thứ nhất: giám sát, kiểm tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu.

 

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp nhà nước được giao cho ba nhóm cơ quan: (i) Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (ii) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; (ii) Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước. Vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này có nhiều điểm khác biệt. Trong đó: (i) Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cơ quan thuộc Chính phủ, được Chính phủ giao thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật; (ii) Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương vừa thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu nhà nước và thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp do mình làm đại diện chủ sở hữu; (iii) Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước là doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nằm trong cơ cấu tổ chức của Uỷ ban quản lý vốn nhà nước, được giao thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thuộc diện chuyển giao từ các bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.

 

Theo quy định tại Điều 57 Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước năm 2014, cơ quan đại diện chủ sở hữu thực hiện giám sát, kiểm tra, thanh tra đối vứoi doanh nghiệp về các hoạt động: a) Đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp; hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, bảo toàn, phát triển vốn nhà nước tại doanh nghiệp; b) Thực hiện quyền, trách nhiệm của người quản lý doanh nghiệp, Kiểm soát viên, người đại diện phần vốn nhà nước; c) Việc chấp hành chính sách, pháp luật của doanh nghiệp; d) Đầu tư, thu hồi vốn, thu lợi nhuận, cổ tức được chia tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; đ) Thực hiện kiến nghị, cảnh báo của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra, kiểm toán, cơ quan đại diện chủ sở hữu về đầu tư, quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Riêng đối với Uỷ ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Nghị định 131/NĐ-CP ngày 29/9/2018 còn giao quyền “giám sát, kiểm tra, thanh tra việc quản lý, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện chiến lược, kế hoạch đầu tư phát triển, việc tuyển dụng lao động, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật”.

 

Thứ hai: kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước các cấp, các ngành.

 

Thiết chế kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước được thực hiện đối với tất cả các doanh nghiệp trong đó có doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, khác với các doanh nghiệp ngoài nhà nước, bên cạnh kênh kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, doanh nghiệp nhà nước còn là đối tượng kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước theo cấp hành chính. Nội dung kiểm tra, thanh tra rất rộng, bao gồm từ việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao cho đến việc chấp hành các chuẩn mực, quy định của pháp luật trong từng ngành, lĩnh vực.

 

Thứ ba: kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

 

Theo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước, hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là việc đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính công, tài sản công hoặc báo cáo tài chính liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của đơn vị được kiểm toán. Với nội hàm về nội dung hoạt động và đối tượng như vậy, hoạt động của tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều là có thể trở thành đối tượng của hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước.

 

Bên cạnh hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước, tuỳ thuộc vào mô hình tổ chức của doanh nghiệp hoặc sự chủ động của doanh nghiệp, hoạt động của doanh nghiệp nhà nước có thể trở thành đối tượng của hoạt động kiểm toán độc lập.

 

Thứ tư: giám sát, kiểm tra của cơ quan kiểm tra Đảng các cấp

 

Với đặc thù chính trị ở Việt Nam, ngoài các thiết chế kiểm soát của Nhà nước, doanh nghiệp nhà nước còn chịu sự giám sát, kiểm tra của các tổ chức Đảng, cụ thể là cơ quan kiểm tra Đảng các cấp. Về cơ bản, hệ thống tổ chức các cơ quan của Đảng được thiết kế tương ứng với hệ thống tổ chức các cơ quan của Nhà nước trong đó cao nhất là Uỷ ban kiểm tra trung ương Đảng. Hoạt động giám sát, kiểm tra của Đảng được tiến hành theo quy định riêng của tổ chức Đảng về trình tự, thủ tục, nội dung, phương thức giám sát, kiểm tra.

 

Thứ năm: giám sát, kiểm tra, thanh tra trong nội bộ Doanh nghiệp nhà nước.

 

Đồng thời với các thiết chế kiểm soát từ bên ngoài, không thể không nhắc đến các thiết chế kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp nhà nước. Có thể nói, số lượng thiết chế kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp nhà nước cũng tương đương với số lượng các thiết chế kiểm soát từ bên ngoài. Theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được cơ quan đại diện chủ sở hữu quyết định tổ chức quản lý dưới hình thức công ty một thành viên theo một trong hai mô hình sau: (i) Mô hình 1: Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên; (ii) Mô hình 2: Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên. Dù theo mô hình nào thì các thiết chế kiểm soát cũng được thiết kế khá tương đồng với nhau, có thể dưới những tên gọi khác nhau, đó là ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng thành viên, Ban thanh tra trực thuộc Ban giám đốc và Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên, Ủy ban kiểm tra Đảng của tổ chức Đảng tại doanh nghiệp nhà nước v.v…

 

Thứ sáu: giám sát của xã hội.

 

Giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước được thực hiện thông qua nhiều phương thức và có sự tham gia của nhiều chủ khác nhau như báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp và người dân v.v… Thông tin thu được từ hoạt động giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước chính là nguồn thông tin đầu vào quan trọng cho hoạt động của các thiết chế giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước và của Đảng đối với doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của kênh giám sát này lại phụ thuộc nhiều vào hành lang pháp lý và sự tạo điều kiện của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng như sự hợp tác của doanh nghiệp trong việc xây dựng và thực hiện các quy định về công khai, minh bạch trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.

 

2. Những hạn chế, bất cập chủ yếu trong cơ chế kiểm soát đối với doanh nghiệp nhà nước

 

Nhìn một cách tổng thể, có thể nhận thấy, doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay đang chịu sự kiểm soát bởi rất nhiều thiết chế kiểm soát khác nhau. Tuy nhiên, sự vận hành của từng thiết chế cũng như vận hành của toàn bộ cơ chế kiểm soát còn có những hạn chế, bất cập. Có thể chỉ ra một số hạn chế, bất cập lớn trong cơ chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam như sau:

 

Thứ nhất, hoạt động giám sát, kiểm tra đối với doanh nghiệp nhà nước của các cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước nhìn chung còn mang tính hình thức, không thực chất và không hiệu quả. Có thể nói, đây là mắt xích yếu nhất trong toàn bộ cơ chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay.

 

Hoạt động giám sát, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước của cơ quan đại diện chủ sở hữu được quy định chủ yếu trong Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, Nghị định 87/2015/NĐ-CP ngày 06/10/2015 của Chính phủ về giám sát đầu tư vốn nhà nước và doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước, Nghị định 10/2019/NĐ-CP ngày 30/10/2019 của Chính phủ về thực hiện quyền, trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước. Các văn bản này quy định rất nhiều quyền hạn cụ thể cho cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước trong giám sát, kiểm tra đối với doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của mình tuy nhiên hầu như không đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan này khi không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền hạn đó.

 

Qua nghiên cứu các quy định, có thể thấy hoạt động giám sát kiểm tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu hầu như chỉ dựa trên kết quả báo cáo tự giám sát của doanh nghiệp, không có những kênh giám sát và đánh giá độc lập đáng tin cậy. Phương thức giám sát hiện hành chủ yếu là giám sát quy trình thực hiện mà chưa chú trọng giám sát đánh giá kết quả đạt được theo từng giai đoạn. Phương thức giám sát này đã gây ra nhiều khó khăn của chính cơ quan đại diện chủ sở hữu đồng thời cũng gây khó khăn cho bản thân doanh nghiệp, làm cho doanh nghiệp bị mất đi sự chủ động và động lực đổi mới, tìm ra phương thức hoạt động hiệu quả hơn.

 

Thứ hai, hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán giúp phát hiện nhiều sai phạm nhưng còn vẫn còn hạn chế, đặc biệt là tình trạng trùng lặp, chồng chéo trong hoạt động giữa các cơ quan có thẩm quyền đã làm giảm hiệu quả hoạt động, gây phiền hà cho doanh nghiệp và lãng phí các nguồn lực.

 

Không thể phủ nhận những đóng góp của hoạt động thanh tra, kiểm toán vào việc phát hiện sai phạm xảy ra tại doanh nghiệp nhà nước thời gian qua, tuy nhiên vẫn phải thừa nhận thực tế là các hoạt động này còn chưa được phối hợp tổ chức một cách nhịp nhàng, hiệu quả. Chồng chéo trong hoạt động kiểm tra, thanh tra giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra nhà nước và chồng chéo giữa cơ quan thanh tra với cơ quan kiểm toán còn diễn ra phổ biến. Tình trạng doanh nghiệp nhà nước phải thường xuyên tiếp đón, làm việc với các đoàn kiểm tra, thanh tra, kiểm toán chưa được khắc phục triệt để, có những đoàn thanh tra, kiểm toán còn gây khó khăn cho doanh nghiệp.

 

Thứ ba, hoạt động giám sát, kiểm tra của tổ chức Đảng thời gian qua đã giúp phát hiện nhiều sai phạm lớn trong doanh nghiệp, xử lý nghiêm về mặt Đảng trách nhiệm của nhiều cá nhân, tổ chức liên quan. Điều này thể hiện vai trò và uy tín và của Đảng ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đặc biệt là tham nhũng, tiêu cực trong doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, về lâu dài, điều này cũng có hạn chế là sẽ làm giảm vai trò của Nhà nước, đi ngược lại với nguyên tắc pháp quyền và nguyên tắc về mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước đó là “Đảng lãnh đạo Nhà nước, Đảng không bao biện, làm thay Nhà nước”.

 

Thứ tư, kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp nhà nước còn hình thức, kém hiệu quả, phụ thuộc nhiều vào người lãnh đạo doanh nghiệp.

 

Tổ chức và hoạt động của ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước đã thể hiện rất rõ nhận định này. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành, kiểm soát viên trong doanh nghiệp nhà nước do chủ sở hữu bổ nhiệm, có nhiệm kỳ không quá ba (03) năm, được xem xét bổ nhiệm lại nếu hoàn thành nhiệm vụ và đáp ứng được các tiêu chuẩn, điều kiện của Kiểm soát viên. Tùy thuộc vào quy mô vốn, phạm vi địa bàn và ngành, lĩnh vực kinh doanh, chủ sở hữu bổ nhiệm từ 01 đến 03 Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước tổ chức theo mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Kiểm soát viên có nhiệm vụ: (i) Kiểm tra tính hợp pháp, trung thực, cẩn trọng của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty và Tổng Giám đốc (Giám đốc) công ty trong tổ chức thực hiện quyền chủ sở hữu, trong quản lý điều hành công việc kinh doanh tại doanh nghiệp; (ii) Thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo đánh giá công tác quản lý và các báo cáo khác trước khi trình chủ sở hữu công ty hoặc các cơ quan nhà nước có liên quan; (iii) Kiến nghị chủ sở hữu công ty các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành công việc kinh doanh của công ty; (iv) Các nhiệm vụ khác quy định tại Điều lệ công ty hoặc theo yêu cầu, quyết định của chủ sở hữu công ty.

 

Trên thực tế, việc thực hiện các nhiệm vụ của Kiểm soát viên tại doanh nghiệp nhà nước tỏ ra hình thức và kém hiệu quả, các sai phạm của doanh nghiệp thời gian qua hầu như không được phát hiện qua kênh kiểm soát này. Nguyên nhân chủ yếu là do kiểm soát viên mặc dù cho cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm nhưng mọi hoạt hoạt động đều gắn liền với doanh nghiệp mà không có được sự độc lập cần thiết. Lương, thưởng và các nguồn thu nhập khác của Kiểm soát viên đều lấy từ nguồn doanh thu của doanh nghiệp. Nơi làm việc và các sinh hoạt chính trị, đoàn thể của Kiểm soát viên cũng gắn liền với doanh nghiệp. Những yếu tố này gần như đã triệt tiêu hoàn toàn tính độc lập, khách quan cần phải có để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát doanh nghiệp của Kiểm soát viên[4].

 

Ngoài ra, trong nội bộ doanh nghiệp cũng xảy ra tình trạng chồng chéo giữa các thiết chế kiếm soát nội bộ như kiểm toán nội bộ, ban thanh tra, cơ quan kiểm tra của tổ chức Đảng trong doanh nghiệp[5].

 

Thứ năm, giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, công khai, minh bạch thông tin về hoạt động của doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế, bất cập.

 

Nghị định số 81/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2015 của Chính phủ về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước đã quy định khá chi tiết những nội dung thông tin mà doanh nghiệp nhà nước có nghĩa vụ phải công bố định kỳ và đột xuất. Các thông tin mà doanh nghiệp nhà nước phải công bố định kỳ gồm thông tin về: Chiến lược phát triển của doanh nghiệp; Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển năm (05) năm của doanh nghiệp; Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển hàng năm của doanh nghiệp; Báo cáo đánh giá về kết quả thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm và ba (03) năm gần nhất tính đến năm báo cáo; Báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ công ích và trách nhiệm xã hội khác (nếu có); Báo cáo tình hình thực hiện sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp hàng năm; Báo cáo thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp; Báo cáo tài chính sáu (06) tháng và báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp; Báo cáo chế độ tiền lương, tiền thưởng của doanh nghiệp.  Ngoài ra, doanh nghiệp phải báo cáo cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước và công bố công khai các thông tin bất thường khi xảy ra một trong các sự kiện theo quy định của pháp luật như: Tài khoản của công ty tại ngân hàng bị phong tỏa hoặc được phép hoạt động trở lại sau khi bị phong tỏa; Tạm ngừng một phần hoặc toàn bộ hoạt động kinh doanh; bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập hoặc giấy phép thành lập và hoạt động hoặc giấy phép hoạt động hoặc giấy phép khác liên quan đến kinh doanh của công ty v.v..

 

Trên thực tế, việc thực hiện các quy định nói trên của doanh nghiệp nhà nước còn nhiều hạn chế, nhiều doanh nghiệp nhà nước chậm thực hiện hoặc không tự giác thực hiện đầy đủ, nghiêm túc nghĩa vụ công bố thông tin. Hàng năm, căn cứ vào báo cáo của Bộ Kế hoạch và đầu tư, Văn phòng Chính phủ đều phải ban hành văn bản thông báo ý kiến chỉ đạo, nhắc nhở của Lãnh đạo Chính phủ về vấn đề này (trích dẫn văn bản của VPCP);

 

3. Một số giải pháp căn bản nhằm tăng cường hiệu quả kiểm soát doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay

 

Sai phạm của doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam đã diễn ra trong khoảng thời gian dài và dự báo sẽ có thể tiếp tục diễn ra nếu chúng ta không kịp thời thay đổi cơ chế quản lý nhà nước cũng như cơ chế kiểm soát đối với doanh nghiệp nhà nước. Nếu so sánh với các doanh nghiệp ngoài nhà nước đang hoạt động trong nền kinh tế, có thể thấy ngay số lượng các thiết chế kiểm soát đối với doanh nghiệp ngoài nhà nước ít hơn rất nhiều so với doanh nghiệp nhà nước nhưng các thiết chế này lại được vận hành rất hiệu quả, đặc biệt là cơ chế kiểm soát nội bộ và kiểm soát từ phía xã hội được phát huy rất tốt. Như vậy, điều cần làm trước tiên để nâng cao hiệu quả kiểm soát đối với doanh nghiệp nhà nước là cần có sự đổi mới về nhận thức, không cần có quá nhiều thiết chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước nhưng việc kiểm soát phải được tiến hành thực chất, các chủ thể có thẩm quyền kiểm soát phải bảo đảm sự độc lập, được giao các quyền hạn thích hợp, được bảo đảm về quyền lợi nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ của mình. Bản thân doanh nghiệp nhà nước cũng cần được tạo sự chủ động, hoạt động phải tuân theo các nguyên tắc thị trường, hạn chế tối đa sự can thiệp từ phía nhà nước vào hoạt động của doanh nghiệp. Các thiết chế kiểm soát đối với doanh nghiệp phải vận hành theo phương thức hiệu quả, bảo đảm không ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của doanh nghiệp. Một số giải pháp cụ thể cần thực hiện để nâng cao hiệu quả kiểm soát doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới như sau:

 

Thứ nhất, cần giao quyền chủ động hơn nữa cho cơ quan đại diện chủ sở hữu đồng thời ràng buộc chặt chẽ trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong giám sát, kiểm tra doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của mình. Không nên quy định cứng toàn bộ nội dung và phương thức giám sát, kiểm tra của cơ quan đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp. Thay vào đó có thể thiết kế thành 2 nhóm, nhóm thứ nhất là những quy định cứng bắt buộc phải tuân thủ, nhóm thứ hai là những quy định tuỳ nghi trong đó khuyến khích cơ quan đại diện chủ sở hữu chủ động áp dụng những cách thức quản lý, giám sát, kiểm tra hiện đại, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện thực tế của doanh nghiệp. Nghiên cứu, áp dụng cách thức giám sát, kiểm tra, đánh giá dựa trên kết quả để thay thế dần cách thức giám sát, kiểm tra, đánh giá theo quá trình như hiện nay.

 

Song song với việc tăng sự chủ động cho cơ quan đại diện chủ sở hữu, cần rà soát, bổ sung, quy định chi tiết, cụ thể trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu, đặc biệt là người đứng đầu cơ quan này trong việc bảo đảm chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát, kiểm tra. Quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan đại diện chủ sở hữu trong trường hợp các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện sai phạm trong doanh nghiệp về nội dung đã được giám sát, kiểm tra hoặc trong trường hợp cơ quan đại diện chủ sở hữu không cung cấp thông tin về dấu hiệu sai phạm của doanh nghiệp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành kiểm tra, thanh tra, kiểm toán làm rõ sai phạm.

 

Thứ hai, cần phân định rõ thẩm quyền giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán. Cơ quan thanh tra nhà nước tập trung thanh tra trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu, giảm thanh tra trực tiếp tại doanh nghiệp. Cơ quan quản lý nhà nước tập trung thực hiện hoạt động kiểm tra chuyên ngành và xử phạt vi phạm hành chính.

 

Nghiên cứu bổ sung quy định chi tiết về hoạt động kiểm tra chuyên ngành, bổ sung căn cứ để tiến hành kiểm tra và chỉ tiến hành kiểm tra theo các căn cứ được quy định, xây dựng các nguyên tắc tiến hành kiểm tra. Áp dụng rộng rãi việc xây dựng các tiêu chí đánh giá rủi ro làm căn cứ cho việc kiểm tra doanh nghiệp trên tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước.

 

Thứ ba, cần xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin hiệu quả giữa các thiết chế kiểm soát doanh nghiệp nhà nước từ bên ngoài, cũng như giữa các thiết chế kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp. Trong ngắn hạn, khi chưa thể có những thay đổi lớn về tổ chức các thiết chế kiểm soát doanh nghiệp thì việc xây dựng cơ chế phối hợp và chia sẻ thông tin giữa các thiết chế này là hết sức cần thiết nhằm giảm thiểu sự chồng chéo, trùng lặp. Sự phối hợp có thể thực hiện ngay ở cấp độ doanh nghiệp. Trên thực tế, một số doanh nghiệp nhà nước thời gian qua đã thực hiện tốt sự phối hợp giữa các thiết chế kiểm soát nội bộ từ việc xây dựng kế hoạch đến triển khai thực hiện việc giám sát, kiểm tra, thanh tra[6]. Việc phối hợp giữa các thiết chế kiểm soát bên ngoài tỏ ra khó khăn hơn do các thiết chế này hoạt động theo những cách thức khác nhau. Trong trường hợp này, việc chia sẻ thông tin đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là thông tin trong quá trình xây dựng kế hoạch của từng hoạt động. Ở mỗi cấp, trên nền tảng thông tin được chia sẻ, cần có một cơ quan đầu mối điều phối chung việc xây dựng kế hoạch và xử lý chồng chéo.

 

Thứ tư, quy định cụ thể trách nhiệm của cơ quan đại diện chủ sở hữu và của doanh nghiệp nhà nước trong việc xây dựng và vận hành cơ chế kiểm soát trong nội bộ doanh nghiệp phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Cơ chế kiểm soát nội bộ cũng giống như hệ miễn dịch của doanh nghiệp, nếu được vận hành một cách thực chất và có hiệu quả sẽ giúp loại bỏ ngay từ đầu nguy cơ sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước là tiến hành kiểm tra việc xây dựng và vận hành cơ chế kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp nhà nước, xử lý nghiêm các doanh nghiệp không tuân thủ. Cách làm này đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.

 

Thứ năm, phát huy tối đa vai trò của xã hội trong giám sát, phát hiện sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp nhà nước. Đây là kênh thông tin đầu vào hết sức quan trọng cho các thiết chế kiểm soát bên ngoài cũng như trong nội bộ doanh nghiệp nhà nước. Cần đẩy mạnh hơn nữa việc công bố công khai thông tin về doanh nghiệp nhà nước, bổ sung quy định về những thông tin phải công bố phù hợp với bối cảnh hiện nay, xử phạt nghiêm trách nhiệm của người đứng đầu doanh nghiệp nhà nước trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về công bố thông tin. Bên cạnh đó, cần tăng cường trách nhiệm của các chủ thể có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, xử lý mọi thông tin, phản ánh, tố cáo về sai phạm, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong doanh nghiệp nhà nước, tiến hành xem xét và xử lý kịp thời trách nhiệm của cá nhân và tập thể có liên quan.

 

ThS. Lê Thị Thúy

Trưởng phòng Quản lý Khoa học

  Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra

[1] Số liệu trích từ Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm 2019

[3] Từ điển Tiếng Việt,, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin 1998

[4]Về danh nghĩa, kiểm  soát viên là người của bộ, do bộ trả lương nhưng thực chất nguồn kinh phí để trả lương và các chi phí khác đều từ doanh nghiệp. Ngoài ra, kiểm soát viên làm việc cùng doanh nghiệp, sinh hoạt đảng cùng doanh nghiệp. Đây chính là hạn chế rất lớn đối với sự khách quan của kiểm soát viên”- ý kiến của đại diện doanh nghiệp nhà nước tại Tọa đàm xây dựng Đề án của Chính phủ ngày 16/6/2020 tại Hà Nội .

[5] “Đang có sự phân biệt chưa rõ về chức năng của các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát ngay từ trong nội bộ. Ngay trong tập đoàn thì hoạt động thanh tra, kiểm tra giữa các bộ phận chức năng cũng đã có sự chồng chéo. Các đơn vị cấp 2, cấp 3 vừa phải đón đoàn bên trong vừa đón đoàn bên ngoài. Vừa rồi có Nghị định 05 về kiểm toán nội bộ thì càng thêm rối” – ý kiến của một đồng chí Lãnh đạo Ban kiểm toán Nội bộ tại Tập đoàn điện lực Việt Nam tại Tọa đàm xây dựng Đề án của Chính phủ ngày 19/6/2020 tại Hà Nội.

 

[6] “Kiểm soát viên được cơ quan đại diện chủ sở hữu bổ nhiệm. DN và kiểm soát viên đều có chương trình kiểm tra riêng, cả UB kiểm tra cũng có cchương trình kiểm tra riêng. Ở Tổng công ty chúng tôi nếu tính riêng thì có tất cả là 4 chương trình kiểm tra của 4 chủ thể khác nhau. Tuy nhiên, hiện tại chúng tôi đã đồng bộ hoá rồi, có một chương trình chung cho cả 4 chủ thể, đi kiểm tra thì thì cả 4 cùng đi” – ý kiến của đại diện Ủy ban kiểm tra Đảng một doanh nghiệp nhà nước ở Trung ương tại Tọa đàm xây dựng Đề án của Chính phủ ngày 16/6/2020 tại Hà Nội.

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: