Một số vấn đề về hoạt động tiếp công dân ở Việt Nam    
Cập nhật: 25/09/2020 10:59
Xem lịch sử tin bài

Pháp luật tiếp công dân hiện nay chủ yếu quy định về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; quy định về tiếp công dân tại các cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Ban Tiếp công dân, việc bố trí cơ sở vật chất của Trụ sở tiếp công dân; quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân

1. Pháp luật tiếp công dân

 

Pháp luật tiếp công dân hiện nay chủ yếu quy định về trách nhiệm tiếp công dân; quyền và nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; quy định về tiếp công dân tại các cơ quan thuộc Chính phủ, đơn vị sự nghiệp công lập; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các Ban Tiếp công dân, việc bố trí cơ sở vật chất của Trụ sở tiếp công dân; quy chế phối hợp hoạt động tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân; việc bố trí cơ sở vật chất của địa điểm tiếp công dân; các điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân; việc tiếp công dân được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức, đơn vị; việc tiếp công dân phải bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong khi tiếp công dân; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, kéo dài diễn ra ngày càng nhiều, phức tạp, đa dạng. Tại Trụ sở tiếp công dân trên cả nước thường xuyên có các đoàn khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người, vượt cấp, kéo dài diễn ra ngày càng gia tăng. Hơn nữa, khi xảy ra các vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người, vượt cấp, kéo dài thì hầu hết các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền đều không đưa ra được giải pháp cụ thể để giải quyết dứt điểm các vụ việc này.

 

2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

 

2.1. Một số tồn tại, hạn chế về pháp luật tiếp công dân

 

Hệ thống văn bản phát luật tiếp công dân còn chung chung, đặc biệt là các văn bản pháp luật về đất đai còn thiếu sự đồng bộ và chưa phù hợp với thực tế, thay đổi thường xuyên làm cho việc nắm bắt các văn bản để trả lời công dân gặp nhiều khó khăn.

 

Pháp luật tiếp công dân quy định “quyền” không đi đôi với “nghĩa vụ” của người khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh. Thực trạng “quyền thì nhiều”, “nghĩa vụ thì ít” nên dẫn đến tình trạng người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đã lạm dụng các quyền như một công cụ đẩy các vụ việc khiếu nại, tố cáo tăng lên tính phức tạp. Nhiều trường hợp biết khiếu nại không có cơ sở nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại. Tố cáo sai chiếm tỷ lệ khá cao, nhưng các cơ quan vẫn phải giải quyết, gây tốn kém chi phí, công sức và thời gian. Mặt khác, tại một số địa phương, vẫn còn một bộ phận công chức chưa thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ được giao; chất lượng tham mưu, đề xuất các vụ việc chuyển đơn còn lòng vòng; công tác phối hợp, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện chưa được thường xuyên, kết nối thông tin chưa đầy đủ, chưa đảm bảo nguyên tắc kịp thời trong công tác tiếp công dân.

 

Pháp luật tiếp công dân quy định không cụ thể về năng lực, trình độ của cán bộ tiếp công dân nên việc chọn, bố trí cán bộ tiếp công dân chưa thật sự đảm bảo theo yêu cầu về năng lực, trình độ và kỹ năng. Trong việc giải quyết đơn thư, còn nhầm lẫn giữa khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh dẫn đến tình trạng không giải quyết dứt điểm các các vụ việc phức tạp, kéo dài. Công chức tiếp công dân ở cấp xã, cấp quận, huyện còn kiêm nhiệm công tác khác, chưa tham mưu kịp thời công tác tiếp công dân theo quy định.

 

Pháp luật tiếp công dân quy định không cụ chế tài xử lý người lợi dụng quyền dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, lôi kéo, xúi giục, tổ chức khiếu nại đông người, vượt cấp nên một số công dân khiếu nại, phản ánh theo kiểu được thì tốt, không thì thôi; nhiều trường hợp cố ý khiếu nại, tố cáo trái pháp luật để gây rối trật tự công cộng. Do các cấp có thẩm quyền không có cơ sở để ban hành kịp thời các quy định hướng dẫn biện pháp chế tài cụ thể áp dụng đối với những người khiếu nại, tố cáo không đúng sự thật, đã được các cơ quan có thẩm quyền trả lời, giải thích nhưng vẫn tiếp tục khiếu nại; do chưa có giải pháp xử lý nghiêm những người lợi dụng quyền dân chủ, quyền không có giải pháp cụ thể để giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo của công dân theo kiểu kích động, lôi kéo, xúi giục tổ chức khiếu nại đông người, vượt cấp.

 

Pháp luật tiếp công dân không quy định chi tiết về chế tài xử lý đối với cán bộ tiếp công dân; không có mức xử phạt cụ thể cho từng hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tiếp công dân dẫn đến nhiều hành vi vi phạm không có quy định để xử phạt nên nhiều cán bộ tiếp công dân vi phạm mà cơ quan tiếp công dân không có chế tài xử lý. Từ lý do này mà nhiều các vụ việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trái pháp luật thường xuyên xảy ra gây bức xúc cho xã hội. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều vụ việc khiếu lại tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài; đơn thư lòng vòng, vượt cấp; tỷ lệ giải quyết đơn thư trái pháp luật gia tăng.  

 

Pháp luật tiếp công dân không quy định cụ thể Quy chế mẫu về việc phối hợp giữa Ban tiếp công dân với các cơ quan Đảng tham gia tiếp công dân thường xuyên tại trụ sở tiếp công dân các cấp. Pháp luật tiếp công dân không quy định cụ thể các tiêu chí xây dựng “cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo” để quản lý các vụ việc khiếu nại, tố cáo được thống nhất từ Trung ương đến địa phương. Hiện nay, mỗi cơ quan tiếp công dân sử dụng riêng một phần mềm nên không thống nhất được chỉ đạo điều hành giải quyết từ Trung ương đến địa phương dẫn đến những vụ việc phức tạp, đông người, kéo dài không có giải pháp giải quyết dứt điểm; đồng thời khó khăn cho việc thực hiện chế độ thông tin báo cáo.

 

Pháp luật tiếp công dân đang quy định 02 con dấu cho cơ quan tiếp công dân nên dẫn đến cán bộ tiếp công dân lúng túng trong việc đóng dấu nào vào văn bản nào; cơ quan nào được phép đóng dấu “một”, cơ quan nào được phép đóng dấu “hai” hoặc cơ quan nào được đóng “cả hai” con dấu; có nhiều văn bản chính cán bộ tiếp công dân cũng không biết đóng con dấu nào cho phù hợp; các cơ quan tiếp công dân chưa phối hợp tốt trong sử dụng các con dấu này đúng mực đích quy định dẫn đến các văn bản trả lời thiếu sức thuyết phục.

 

Pháp luật tiếp công dân quy định không đồng bộ giữa “tiếp công dân” và “giải quyết đơn thư”. Tiếp công dân theo pháp luật tiếp công dân; xử lý đơn thư theo pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị. Ban tiếp công dân các cấp chỉ có trách nhiệm tiếp nhận, phân loại rồi chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhưng không tham gia giải quyết, kết luận. Trong khi đó, công dân đến Trụ sở tiếp công dân khiếu nại, tố cáo chỉ biết gửi đơn và thu lại kết quả tại chính nơi gửi đơn. Bất cập chính là cán bộ tiếp công dân không thể trả lời cho công dân được về kết quả xử lý đơn thư cũng như quá trình giải quyết đang ở giai đoạn nào, bao lâu thì có kết luận (hoặc có quyết định). Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đơn thư gửi lòng vòng, vượt cấp, kéo dài, đặc biệt là mất lòng tin của dân đối với cơ quan tiếp công dân.

 

2.2. Một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động tiếp công dân

 

Tiếp công dân là công tác quan trọng trong các hoạt động của Đảng, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở nước ta. Thông qua hoạt động tiếp công dân, Nhà nước và các cơ quan, tổ chức tiếp nhận được các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của nhân dân liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật để có các biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Làm tốt công tác tiếp công dân là thể hiện bản chất Nhà nước của dân, do dân và vì dân, tăng cường mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước; giúp cho Đảng, Nhà nước tiếp nhận được những thông tin phản hồi từ thực tế, những vấn đề nảy sinh từ cuộc sống, từ đó đề ra những chủ trương, quyết sách đúng đắn, hợp lòng dân. Tuy nhiên, thực trạng hoạt động tiếp công dân vần còn tồn tại nhiều bất cấp, hạn chế dẫn đến tình hình đơn thư có chiều hướng gia tăng.

 

Các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể chưa nhận thức đầy đủ về trách nhiệm tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và chưa coi đây là một trong những nhiệm vụ chính trị của mình. Nhiều đồng chí lãnh đạo chưa trực tiếp tiếp công dân đầy đủ theo quy định, còn có tư tưởng khoán trắng cho một số cơ quan chuyên môn; chưa tổ chức đối thoại, chỉ đạo giải quyết các vụ việc phức tạp ngay từ nơi phát sinh; chưa chấn chỉnh những việc làm sai trái của cán bộ, cơ quan cấp dưới; còn yếu trong hướng dẫn công dân thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nhiều nơi chưa ban hành nội quy, quy chế tiếp công dân; việc bố trí công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, đầu tư cơ sở, trang thiết bị cho Trụ sở, công tác tiếp công dân chưa hợp lý. Một số địa phương chưa chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ tiếp công dân cho đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân ở các cấp, các ngành.

 

Quy định về tên gọi, mô hình tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế hoạt động của các cơ quan tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương còn thiếu thống nhất. Nhiệm vụ, quyền hạn của người phụ trách Trụ sở tiếp công dân, người làm công tác tiếp công dân chưa được quy định đầy đủ và rõ ràng. Phạm vi trách nhiệm, sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức thường trực tại Trụ sở tiếp công dân của Trung ương Đảng, của Trụ sở tiếp công dân các cấp chưa rõ ràng. Mối quan hệ giữa Trụ sở tiếp công dân ở Trung ương với cơ quan thường trực tiếp dân ở địa phương và mối quan hệ giữa Trụ sở tiếp công dân với cơ quan thanh tra, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chưa đầy đủ. Tiêu chuẩn, chế độ chính sách đối với người tiếp công dân chưa phù hợp; trình tự, thủ tục tiếp công dân, công tác quản lý về tiếp công dân chưa được quy định đầy đủ và cụ thể. Việc tiếp công dân còn hình thức, chưa hiệu quả, có tình trạng khoán trắng cho công chức tiếp công dân hoặc cơ quan chức năng; có nơi còn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, thái độ không đúng mực đối với người dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đông người, phức tạp, kéo dài; tình trạng né tránh trách nhiệm, hướng dẫn công dân không đúng quy định vẫn còn xảy ra. Chế độ thông tin về tình hình khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh tại Trụ sở tiếp công dân, cơ quan, tổ chức, đơn vị chưa được đầy đủ, kịp thời; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu  nại, tố cáo và tiếp công dân chưa được quan tâm đúng mức.

 

Việc tiếp dân định kỳ tại một số nơi còn chưa đảm bảo đúng quy định của Luật Tiếp công dân; giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền tại một số địa phương còn chậm, chưa đúng trình tự, thủ tục, chính sách pháp luật và chưa phù hợp với thực tiễn. Đáng chú ý, vẫn còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, thiếu quyết tâm trong việc tiếp công dân, đối thoại với dân, xem xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc có tính chất phức tạp. Ngoài ra, tỷ lệ giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền đạt hiệu quả thấp hơn so với mục tiêu đề ra. Một số địa phương chưa quyết liệt trong giải quyết các vụ việc khiếu nại, tố cáo tồn đọng, phức tạp, kéo dài.

 

Về công tác tiếp công dân tại một số bộ, ngành, địa phương vẫn còn tình trạng ủy quyền cho cấp phó thực hiện việc tiếp công dân định kỳ, chưa gắn kết việc tiếp công dân với giải quyết khiếu nại, tố cáo, dẫn đến người dân có tâm lý thiếu tin tưởng vào kết quả giải quyết, tiếp tục khiếu nại, tố cáo kéo dài. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến chất lượng tiếp công dân thấp, trình trạng khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài gia tăng, không đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

 

Việc quan tâm chỉ đạo trong công tác tiếp công dân từ phía lãnh đạo còn hạn chế. Điều đó dẫn đến sự phối hợp là chưa được tốt. Việc thành lập Ban tiếp công dân tại các tỉnh chưa hiệu quả; các vụ việc chưa được địa phương quan tâm nhiều nên có nhiều đơn thư vượt cấp; chưa chủ động tiếp công dân tại địa phương, vẫn còn tình trạng đùn đẩy, né tránh tiếp công dân; chưa kiểm tra, thanh tra thường xuyên hoạt động tiếp công dân tại các địa phương.

 

Việc tuyên truyền về khiếu nại, tố cáo thiếu đồng bộ và yếu; Cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo không triển khai được; tình trạng cán bộ tiếp công dân ở một số địa phương không biết phân loại đơn thư; báo cáo các tỉnh về việc phối hợp tiếp công dân chưa chưa chính xác, kịp thời; báo cáo còn mang tính hình thức; trách nhiệm người đứng đầu trong tiếp và chỉ đạo tiếp công dân chưa cao; công dân khiếu nại, tố cáo sai nhiều mà không có chế tài cụ thể xử lý.

 

Cơ chế vận hành Ban tiếp công dân ở các cấp còn nhiều bất cập; việc tiếp công dân giải quyết vấn đề chống tham nhũng không có đầu ra nên dẫn đến nhiều bất cập và nhiều bức xúc không thể giải quyết; các cơ quan tiếp công dân tại Trụ ở tiếp công dân phối hợp chưa đồng bộ. Có nhiều công dân đến chọn cơ quan tiếp công dân theo ý mình, mặc dù đơn thư đó không đúng thẩm quyền giải quyết của cơ quan được chọn đó; công tác phối hợp của các cơ quan tiếp công dân xử lý những tình huống này còn hạn chế, dẫn đến gia tăng đơn thư gửi lòng vòng, vượt cấp, không đúng thẩm quyền.

 

Việc giải quyết đơn của công dân hiện nay là không có điểm dừng do công tác phối hợp tiếp dân giữa các cơ quan tiếp công dân chưa tốt; do phối hợp giữa cơ quan tiếp công dân với cơ quan xử lý, giải quyết đơn thư chưa tốt; do tình trạng né tránh, đùn đẩy đơn thư từ Trung ương xuống địa; do chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo.

 

Hoạt động tiếp công dân đang mang nặng tính hình thức, tiếp công dân theo kiểu đối phó là chính; cán bộ tiếp công dân còn nhiều hạn chế về năng lực, trình độ, ít có sự am hiểu về tiếp công dân, về hiểu biết xã hội, về khả năng giao tiếp và đạo đức nghề nghiệp. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài.

 

2.3. Nguyên nhân

 

Do nhận thức của một số lãnh đạo bộ, ngành, địa phương chưa đúng mức, chưa thực sự coi công tác tiếp dân là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo, góp phần ổn định chính trị, xã hội, phát huy quyền dân chủ của công dân.

 

Do pháp luật tiếp công dân còn nhiều hạn chế, bất cập, thiếu đồng bộ nên chưa đáp ứng được yêu cầu một số công việc cụ thể trong hoạt động tiếp công dân; chưa phân định rõ việc tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo với kiến nghị, phản ánh; chưa quy định rõ việc tiếp công dân của người đứng đầu với việc tiếp công dân của công chức; giữa việc tiếp công dân thường xuyên với việc tiếp công dân theo yêu cầu cần thiết đối với vụ việc phức tạp, có nhiều người tham gia.

 

Do công tác tiếp công dân là hoạt động phức tạp, đòi hỏi vừa linh hoạt, mềm dẻo vừa đúng nguyên tắc, đúng quy định pháp luật; trong khi năng lực, trình độ và kỹ năng của một bộ phận cán bộ tiếp công dân còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Mặt khác, nhiều vấn đề do lịch sử để lại hoặc chính sách, pháp luật về các lĩnh vực nhạy cảm như nhà ở, đất đai, đền bù, giải phóng mặt bằng… còn nhiều bất cập nên việc giải thích, trả lời cho công dân gặp nhiều vướng mắc.

 

Do việc tiếp công dân chưa gắn với việc xem xét, giải quyết vụ việc của các cơ quan nhà nước. Việc tiếp công dân của các Trụ sở chưa gắn với việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, giải quyết của các cấp, các ngành; vì vậy, hiệu quả công tác tiếp công dân chưa cao.

 

Do việc triển khai cơ chế, chính sách đến các cơ sở chưa tốt; ý thức người dân chưa cao; có sự kích động của các nhóm phản động; việc tiếp công dân của người đúng đầu chưa đầy đủ; quy chế phối hợp không đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; các cơ quan tiếp công dân địa phương phối hợp còn mang tính hình thức; chưa có sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương đến địa phương trong hoạt động tiếp công dân; chưa có sự phối hợp các cơ quan tiếp công dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương.

 

Do chưa giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài; do chưa có “cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo”; do các cơ quan tiếp dân chỉ có chức năng tiếp công dân, không có chức năng giải quyết.

 

 3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân

 

- Giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài: Tình hình khiếu nại, tố cáo phức tạp, đông người, vượt cấp, kéo dài diễn ra ngày càng nhiều và gia tăng tại Cổng Trụ sở Thanh tra Chính phủ, Trụ sở tiếp dân Trung ương Đảng và các Trụ sở tiếp công dân trên cả nước. Khi xảy ra các vụ khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, kéo dài thì các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giải quyết lại đang lúng túng, thờ ơ, chưa có phương pháp và cách thức giải quyết dứt điểm các vụ việc này. Từ năm 2009 đến nay, Thanh tra Chính phủ đã ban hành hàng loạt kế hoạch để giải quyết dứt điểm các vụ việc này: Kế hoạch số 319/2009; Kế hoạch số 1130; Kế hoạch số 2100/2013; Kế hoạch số 363/2019; Quyết định số 1849/2018/QĐ-TTg. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa giải quyết dứt điểm các vụ việc này.

 

Giải pháp giải quyết dứt điểm các vụ việc tồn đọng, phức tạp, kéo dài: Giải quyết đúng pháp luật; giải quyết đúng pháp luật nhưng đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của dân; đối với vụ việc đã có hiệu lực của pháp luật cần xem xét theo hướng: nếu đúng pháp luật mà dân vẫn thiệt thì giải quyết lại; trái pháp luật giải quyết lại; hướng dẫn người dân hiểu pháp luật để không khiếu nại tiếp mà khởi kiện ra tòa; giải quyết vụ việc xảy ra ở thời kỳ nào thì theo pháp luật thời kỳ đó; có chính sách đền bù phù hợp với quy định và tình hình thực tế; ban hành chế tài xử lý người giải quyết trái pháp luật và công dân gây rối. 

 

- Hoàn thiện pháp luật tiếp công dân đồng bộ, thống nhất với các quy định khác liên quan: Pháp luật tiếp công dân cần quy định đồng bộ với các văn bản pháp luật về đất đai và các văn bản khác liên quan; quy định phù hợp với thực tế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; quy định thời hạn áp dụng (hiện nay các văn bản thay đổi thường xuyên); Quy định cụ thể về “quyền” đi đôi với “nghĩa vụ” của người khiếu nại, tố cáo

 

- Quy định cụ thể về năng lực, trình độ của cán bộ tiếp công dân: Việc chọn và bố trí cán bộ tiếp công dân phải đạt yêu cầu về năng lực, trình độ và kỹ năng; cần ban hành trình tự, thủ tục giải quyết cho từng loại đơn: khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; quy định cụ thể cán bộ tiếp công dân hoạt động theo chế độ chuyên trách (tránh cán bộ tiếp công dân ở cấp xã, cấp quận, huyện còn kiêm nhiệm).

 

- Ban hành quy chế về chế tài xử lý người khiếu nại, tố cáo có hành vi vi phạm pháp luật: Tuy pháp luật có quy định xử lý nhưng chung chung, rất khó áp dụng; cần ban hành chế tài cụ thể để xử lý công dân kích động, lôi kéo, xúi giục tổ chức khiếu nại đông người, vượt cấp; xử lý công dân lợi dụng quyền dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, lôi kéo, xúi giục tổ chức khiếu nại đông người, vượt cấp; xử lý trường hợp cố ý khiếu nại, tố cáo trái pháp luật để gây rối trật tự công cộng; xử lý những vụ việc đã trả lời những vẫn tiếp tục khiếu nại.

 

- Ban hành quy chế về chế tài xử lý đối với cán bộ tiếp công dân có hành vi vi phạm pháp luật: Ban hành quy chế xử phạt từng hành vi vi phạm pháp luật và mức xử phạt cán bộ trong hoạt động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử phạt nghiêm hành vi cố ý giải quyết trái pháp luật, lợi ích nhóm (hiện tượng giải quyết trái pháp luật thường xuyên xảy ra nhưng không được xử phạt đúng người đúng tội, gây bức xúc cho người dân và xã hội).

 

- Ban hành quy chế chung về việc phối hợp giữa các cơ quan trong Trụ sở Tiếp công dân: Cần ban hành quy chế chung phối hợp tiếp công dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương (hiện Cơ quan Tiếp công dân ban hành quy chế riêng nên rất khó khăn trong phối hợp tiếp công dân); quy định cụ thể tiêu chí chung và tiêu chí riêng về “CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo” để các Cơ quan Tiếp công dân có thể tự xây dựng CSDL khiếu nại, tố cáo cho cơ quan mình.

 

- Hoàn thiện pháp luật tiếp công dân đồng bộ với pháp luật khiếu nại, tố cáo: Trong Trụ sở tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương thường có từ 06 đến 09 cơ quan, trong đó chỉ có từ 01 đến 02 cơ quan có chức năng giải quyết. Pháp luật tiếp công dân cần quy định thêm quyền: nhận, phân loại và giải quyết; quy định cụ thể giải quyết đối với vụ việc có nội dung liên quan đến nhiều cơ quan, tố chức, có nhiều người cùng khiếu nại; quy định cụ thể giải quyết các vụ việc đông người, phức tạp, kéo dài; các vụ việc đã có hiệu lực của pháp luật.

 

- Quy định cụ thể thẩm quyền tiếp công dân của các cơ quan tại Trụ sở tiếp công dân: Cần quy định cụ thể về thẩm quyền tiếp nhận và giải quyết đơn thuộc cơ quan nào cơ quan đó giải quyết; quy định cụ thể công dân phải nộp đơn đúng cơ quan thuộc thẩm quyền; quy định cụ thể việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc đơn thư của các cơ quan thuộc thẩm quyền.

 

- Quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự theo dõi, đôn đốc việc xử lý, giải quyết các vụ việc chuyển đến cơ quan thuộc thẩm quyền giải quyết: Quy định rõ thẩm quyền, trình tự theo dõi, đôn đốc việc xử lý, giải quyết các vụ việc do các cơ quan tham gia tiếp công dân tại Trụ sở chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; quy định rõ cơ chế phối hợp giữa thanh tra với Ban tiếp công dân trong việc thanh tra trách nhiệm về việc thực hiện pháp luật về tiếp công dân; quy định rõ thẩm quyền xử lý trong quá trình theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

 

- Quy định cụ thể mối quan hệ giữa các Ban tiếp công dân với nhau và các cơ quan thanh tra: Quy định cụ thể mối quan hệ giữa Ban tiếp công dân Trung ương với Ban tiếp công dân cấp tỉnh, Ban tiếp công dân cấp tỉnh với Ban tiếp công dân cấp huyện để hướng dẫn nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng báo cáo, nắm bắt thông tin, đôn đốc, kiểm tra hoạt động tiếp công dân; quy định cụ thể cơ chế phối hợp hệ giữa Trụ sở tiếp công dân Trung ương với cơ quan Thanh tra các cấp, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo.

 

- Quy định cụ thể cơ quan quản lý nhà nước về tiếp công dân tại trụ sở tiếp công dân: Quy định cụ thể vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của từng cơ quan tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân; quy định rõ cơ quan làm đầu mối để giải quyết các tình huống thực tiễn; quy định rõ cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về công tác tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân.

 

- Quy định cụ thể về trách nhiệm phối hợp tiếp và xử lý vụ việc nhiều người cùng khiếu nại, tố cáo về cùng một nội dung: Quy định cụ thể khi xảy ra vụ việc này thì cơ quan nào chủ trì, cơ quan nào cử đại diện, cơ quan nào tiếp và xử lý; quy định rõ về trách nhiệm phối hợp của người đứng đầu các cơ quan; quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc này.

 

- Quy định cụ thể về trách nhiệm người đứng đầu trong tiếp công dân định kỳ: Việc quy định Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ 01 tháng 01 lần là không hợp lý, cần tăng số buổi tiếp công dân định kỳ 01 tháng 02 lần; Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp huyện quy định tiếp công dân 01 tháng 01 lần là không hợp lý, cần tăng 01 tháng 02 lần, nhưng có thể ủy quyền cho cấp phó tiếp công dân.

 

- Quy định bổ sung vào pháp luật tiếp công dân về trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy đảng trong giải quyết khiếu nại, tố cáo: Người đứng đầu cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện 01 ngày trong 01 tháng; người đứng đầu cấp ủy cấp xã tiếp dân 02 ngày trong 01 tháng; người đứng đầu cấp ủy buộc phải tiếp dân đối với vụ việc nổi cộm, phức tạp, kéo dài, có nhiều người tham gia, liên quan đến trách nhiệm của nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ý kiến các cơ quan, tổ chức đơn vị còn khác nhau và vụ việc có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

 

- Giải pháp về quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp trong hoạt động tiếp công dân và xử lý đơn thư: Xây dựng bộ quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp tiếp công dân và xử lý đơn thư trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; xây dựng quy tắc ứng xử và đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tiếp công dân trong hoạt động tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức kỷ cương, trách nhiệm, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

 

- Giải pháp xây dựng có CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo: Thanh tra Chính phủ phải xây dựng “CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo” và triển khai đến cấp xã (khoảng 22.000 đơn vị); xây dựng CSDL quốc gia về khiếu nại, tố cáo phải đạt các tiêu chí: đáp ứng mô hình nghiệp vụ theo pháp luật tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; đáp ứng mô hình nghiệp vụ đặc thù riêng của từng đơn vị tiếp công dân từ Trung ương đến địa phương; phải chuyển đổi dữ liệu cho các đơn vị đang dùng phần mềm khiếu nại, tố cáo; mỗi vụ việc phải tạo được thành một hồ sơ vụ việc điện tử và duy nhất; khử trùng đơn thư chồng chéo, trùng lắp, gửi lòng vòng; kết xuất được báo cáo theo quy định của pháp luật tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo và các quy định của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Thanh tra Chính phủ, ngành thanh tra và các cơ quan liên quan cần báo cáo.

 

TS. Cung phi Hùng

Phó Viện trưởng

Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: