Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo    
Cập nhật: 11/06/2019 10:49
Xem lịch sử tin bài

Một vụ việc tố cáo liên quan đến ba chủ thể là người tố cáo, người bị tố cáo và người giải quyết tố cáo. Việc xác định các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này là hết sức quan trọng, làm phát sinh các quan hệ pháp lý được nhà nước bảo đảm thực hiện, đồng thời cũng xác định quyền hạn, nghĩa vụ của mỗi chủ thể đối với các chủ thể khác và các cơ quan, tổ chức có liên quan cũng như trách nhiệm của họ trước pháp luật. Tất cả các quy định này là để bảo đảm cho việc giải quyết tố cáo được thuận lợi.

I. Quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

Điều 9 Luật Tố cáo quy định về quyền và nghĩa vụ của người tố cáo

1. Người tố cáo có các quyền sau đây:

a) Thực hiện quyền tố cáo theo quy định của Luật này (Điểm a, Khoản 1, Điều 9);

Trước hết pháp luật khẳng định quyền được tố cáo của mọi người và sự ghi nhận đó cũng chính là sự khẳng định trách nhiệm của nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết đúng đắn, kịp thời mọi tố cáo. Để tố cáo được giải quyết có hiệu quả, pháp luật đưa ra những trình tự, thủ tục nhất định và việc xử lý sẽ căn cứ vào tính chất mức độ cụ thể từng vụ việc bị tố cáo. Vì vậy người tố cáo thực hiện quyền tố cáo “theo quy định của Luật này”.

b) Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và thông tin cá nhân khác (Điểm b, Khoản 1, Điều 9);

Đây là quyền hết sức quan trọng của người tố cáo. Khoản 2, Điều 4 của Luật Tố cáo quy định: “Việc giải quyết tố cáo phải bảo đảm an toàn cho người tố cáo”. Việc tố cáo hướng về hành vi vi phạm và người vi phạm đối diện với sự trừng phạt của pháp luật. Vì vậy, khả năng người bị tố cáo tìm cách trả thù người đã tố cáo hành vi vi phạm của mình rất dễ xảy ra, nhất là khi người bị tố cáo lại là những người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước. Đây chính là điều mà người tố cáo e ngại nhất khi muốn tố cáo. Chỉ khi nào họ cảm thấy yên tâm, cảm thấy được an toàn thì mới có thể tố cáo. Các khảo sát gần đây cho thấy tỷ lệ người dân sẵn sàng tố cáo hành vi vi phạm pháp luật, đặc biệt tố cáo hành vi tham nhũng là không cao và một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do họ lo sợ bị trả thù. Vì vậy Luật Tố cáo khẳng định người tố cáo “Được bảo đảm bí mật họ tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin khác” là cần thiết.

c) Được thông báo về việc thụ lý hoặc không thụ lý tố cáo, chuyển tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết, gia hạn giải quyết tố cáo, đình chỉ, tạm đình chỉ việc giải quyết tố cáo, tiếp tục giải quyết tố cáo, kết luận nội dung tố cáo (Điểm c, Khoản 1, Điều 9)

Người tố cáo khi thực hiện quyền tố cáo của mình đều mong muốn việc tố cáo đươc giải quyết, hành vi vi phạm phải được ngăn chặn và người có hành vi vi phạm phải bị xử lý nghiêm minh. Vì vậy, họ có quyền được biết quá trình vụ việc mình tố cáo được cơ quan nhà nước xem xét, xử lý như thế nào? Có kịp thời không? Có đúng pháp luật không?... Họ được biết các thông tin liên quan để theo dõi và cũng là để giám sát việc giải quyết của cơ quan nhà nước có trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Nếu không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì họ có thể tố cáo tiếp.

d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo chưa được giải quyết (Điểm d, Khoản 1, Điều 9)

Quy định này nhằm bảo vệ quyền của người tố cáo được tiếp tục tố cáo khi cho rằng tố cáo của mình chưa được giải quyết đúng pháp luật, hành vi vi phạm chưa được ngăn chặn, người vi phạm chưa được xử lý hoặc xử lý không nghiêm minh, thậm chí thiếu trách nhiệm hoặc bao che cho người vi phạm. Vì vậy, người tố cáo sẽ thực hiện quyền tố cáo tiếp trong hai trường hợp: (1) hoặc là khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật; (2) hoặc là, quá thời hạn quy định mà tố cáo của họ chưa được giải quyết.

Điều cần lưu ý là người tố cáo chỉ có quyền tố cáo tiếp khi “có căn cứ” cho rằng việc giải quyết tố cáo không đúng. Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết trên cơ sở thực tiễn khách quan và theo những quy định của pháp luật và người tố cáo cũng phải căn cứ vào đó để đánh giá việc giải quyết tố cáo đã đúng pháp luật hay không chứ không thể căn cứ vào suy diễn chủ quan hoặc ý muốn của mình để đồng ý hay không đồng ý với cách giải quyết của cơ quan có thẩm quyền rồi quyết định tiếp tục tố cáo. Nếu tố cáo tiếp mà không có căn cứ thì cũng sẽ không được thụ lý giải quyết.

đ) Rút tố cáo (Điểm đ, Khoản 1, Điều 9);

Tố cáo được coi là quyền của mọi người nên khi người tố cáo thực hiện quyền tố cáo nhưng không muốn tiếp tục thì có quyền rút tố cáo. Tuy nhiên, khác với khiếu nại, việc rút đơn tố cáo cần phải được các cơ quan có trách nhiệm tìm hiểu nguyên nhân. Nếu người tố cáo rút đơn tố cáo vì thấy rằng tố cáo của mình thiếu căn cứ thì đó là chuyện bình thường nhưng nếu người tố cáo rút đơn vì lý do bị đe dọa trả thù, trù dập hoặc bị người có hành vi vi phạm mua chuộc, dụ dỗ thì các cơ quan có trách nhiệm làm rõ, bảo vệ người tố cáo nếu thấy cần thiết.  Nếu xét  thấy việc tố cáo có căn cứ thì vẫn tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý hành vi vi phạm pháp luật. Rút tố cáo là một quy định mới của Luật Tố cáo năm 2018 trên cơ sở thực tiễn công tác giải quyết tố cáo. Điều 33 quy định cụ thể như sau:

“1. Người tố cáo có quyền rút toàn bộ nội dung tố cáo hoặc một phần nội dung tố cáo trước khi người giải quyết tố cáo ra kết luận nội dung tố cáo. Việc rút tố cáo phải được thực hiện bằng văn bản.

2. Trường hợp người tố cáo rút một phần nội dung tố cáo thì phần còn lại được tiếp tục giải quyết theo quy định của Luật này; trường hợp người tố cáo rút toàn bộ nội dung tố cáo thì thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 34 của Luật này. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo mà có một hoặc một số người tố cáo rút tố cáo thì tố cáo vẫn tiếp tục được giải quyết theo quy định của Luật này. Người đã rút tố cáo không được hưởng quyền và không phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 9 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

3. Trường hợp người tố cáo rút tố cáo mà người giải quyết tố cáo xét thấy hành vi bị tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc có căn cứ xác định việc rút tố cáo do bị đe dọa, mua chuộc hoặc người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vụ việc tố cáo vẫn phải được giải quyết.

4. Người tố cáo rút tố cáo nhưng có căn cứ xác định người tố cáo lợi dụng việc tố cáo để vu khống, xúc phạm, gây thiệt hại cho người bị tố cáo thì vẫn phải chịu trách nhiệm về hành vi tố cáo của mình, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật

5. Chính phủ quy định chi tiết điều này”

e) Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo vệ người tố cáo (Điểm e, Khoản 1, Điều 9)

Khi người tố cáo thấy có những dấu hiệu về việc đe dọa, trả thù thì họ có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ. Việc đề nghị cần được thực hiện theo những thủ tục nhất định và những nguy cơ hay dấu hiệu của sự trả thù phải hiện hữu, cần thiết phải có biện pháp ngăn chặn ngay.

g) Được khen thưởng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật (Điểm g, Khoản 1, Điều 9).

Người tố cáo vì lợi ích của nhà nước và xã hội mà báo cho cơ quan nhà nước hành vi vi phạm pháp luật để có biện pháp ngăn chặn và xử lý. Đây là việc làm thể hiện ý thức trách nhiệm cao của một cá nhân cần được tôn vinh. Vì vậy, pháp luật quy định quyền của người tố cáo “được khen thưởng theo quy định của pháp luật”, trên cơ sở công sức của họ cũng như căn cứ vào hiệu quả thực tế thông qua giải quyết vụ việc mà họ tố cáo, nhất là những tố cáo tham nhũng giúp nhà nước thu hồi lại tiền bạc, tài sản.

Cùng với các quyền, người tố cáo cũng có những nghĩa vụ nhất định khi thực hiện quyền tố cáo. Nghĩa vụ này một mặt để tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước thuận lợi trong việc tiếp nhận và xử lý kịp thời các tố cáo, mặt khác bảo đảm cho việc tố cáo nề nếp, quy củ, có căn cứ và ràng buộc trách nhiệm của người tố cáo đối với những nhội dung mà họ tố cáo

2. Người tố cáo có các nghĩa vụ sau đây:

a. Cung cấp thông tin cá nhân quy định tại Điều 23 của Luật này (Điểm a, Khoản 2, Điều 9);

Nghĩa vụ cung cấp thông tin cá nhân cho cơ quan có thẩm quyền thể hiện trách nhiệm của người tố cáo đối với những nội dung mà mình tố cáo, mặt khác cũng tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan nhà nước có thể liên hệ với người tố cáo để làm rõ những thông tin mà họ biết được khi cần thiết, phục vụ cho quá trình giải quyết  vụ việc mà họ tố cáo. Điều 23 của Luật Tố cáo quy định:

“1. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ tên, địa chỉ của người tố cáo, cách thức liên hệ với người tố cáo; hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo; người bị tố cáo và các thông tin khác có liên quan. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì trong đơn tố cáo còn phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, cách thức liên hệ với từng người tố cáo; họ tên của người đại diện cho những người tố cáo.

Người tố cáo phải ký tên hoặc điểm chỉ vào đơn tố cáo.

2. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo về cùng một nội dung thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản”

b) Trình bày trung thực về nội dung tố cáo; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được (Điểm b, Khoản 2, Điều 9); Hợp tác với người giải quyết tố cáo khi có yêu cầu (Điểm d, Khoản 1, Điều 9);

Tính trung thực là nghĩa vụ quan trọng nhất của người tố cáo. Việc tố cáo phải xuất phát từ ý thức trách nhiệm công dân muốn cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn và xử lý hành vi vi phạm nên phải phản ánh một cách khách quan, trung thực về điều mình tố cáo, không gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và giải quyết và không gây thiệt hại đến người bị tố cáo và tổ chức, cá nhân khác. Người tố cáo cũng có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu mà mình có được liên quan đến nội dung tố cáo để tạo điều kiện cho cơ quan nhà nước nhanh chóng làm rõ nội dung tố cáo và xử lý hành vi vi phạm, người vi phạm khi cần thiết. Người tố cáo cũng cần có thái độ, sẵn sàng hợp tác với cơ quan nhà nước khi có yêu cầu

c. Chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo; Bồi thường thiệt hại do hành vi cố ý tố cáo sai sự thật của mình gây ra (Điểm đ, Khoản 2, Điều 9).

Việc tố cáo có thể gây ra những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho người bị tố cáo nếu tố cáo không đúng. Vì vậy, Luật Tố cáo quy định người tố cáo có nghĩa vụ chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung tố cáo và nâng cao trách nhiệm của người tố cáo cần cân nhắc khi thực hiện việc tố cáo của mình. Điểm đ, Khoản 2 của điều này cũng chỉ rõ họ có thể phải “bồi thường thiệt hại do hành vi tố cáo sai sự thật của mình gây ra”. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu đầy đủ quy định này về trách nhiệm của người tố cáo. Nội dung tố cáo phải qua xác minh, kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải theo những tình tự, thủ tục chặt chẽ. Mặc dù người tố cáo có trách nhiệm về tố cáo của mình nhưng nếu họ thực hiện việc tố cáo hoàn toàn trung thực, hành vi mà họ tố cáo không vi phạm pháp luật. Người tố cáo có thể do thiếu thông tin hoặc nhận thức chưa đầy đủ về hành vi mà họ tố cáo không xuất phát từ những động cơ xấu thì họ không bị xử lý. Người tố cáo chỉ phải chịu trách nhiệm và chịu các biện pháp xử lý khi “cố tình tố cáo sai sự thật” (Khoản 10, Điều 8 của Luật Tố cáo) nghĩa là biết rõ việc tố cáo của mình là không đúng, người bị tố cáo không vi phạm mà vẫn tố cáo vì mục đích xấu, thậm chí bịa đặt tình tiết, tạo chứng cứ giả, tung tin thất thiệt… thì mới bị xử lý. Nếu hành vi có cấu thành tội phạm thì còn có thể bị xử lý về tội vụ khống, vu cáo theo quy định của pháp luật về hình sự.

 

TS. Đinh Văn Minh

Vụ trưởng Vụ pháp chế, TTCP

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: