So sánh Thanh tra, kiểm tra khu vực công và khu vực tư    
Cập nhật: 20/08/2019 02:36
Xem lịch sử tin bài

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc trụ cột trong tổ chức và vận hành của bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng đắn và hiệu quả. Hành pháp được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc xây dựng và quản lý về mặt hành chính nhà nước các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị.

I. Khái quát về khu vực công và khu vực tư

Trước khi đề cập đến hoạt động thanh tra, kiểm tra trong khu vực công và khu vực tư, chúng ta cần xác định nội hàm của hai khái niệm này. Hiện nay, thế giới tồn tại nhiều cách tiếp cận và nghiên cứu về khu vực công và khu vực tư. Theo giáo trình Hành chính công của Học viện Hành chính Quốc gia thì khu vực công là môt thuật ngữ được sử dung phổ biến trên thế giới từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Vềlý thuyết, khu vực công là một thuật ngữ diễn đạt phạm trù kinh tế - xã hội có nguồn gốc trong tiếng Anh là Public Sector và tiếng Pháp là Secteur public. Khu vực công khái quát một khu vực kinh tế - xã hội rộng tồn tại ở mọi quốc gia. Theo Joseph E. Stiglitz (nhà Kinh tế học người Mỹ, giáo sư Trường Đại học Columbia), một cơ quan hay đơn vị được xếp vào khu vực công khi có hai đặc điểm: Một là, về phương diện lãnh đạo, trong một chế độ dân chủ, những người chịu trách nhiệm lãnh đạo các cơ quan công lập đều được công chúng bầu ra hoặc được chỉ định (trực tiếp hoặc gián tiếp), hoạt động của các cơ quan này phải phục vụ cho đại đa số lợi ích của cộng đồng tức là khu vực công là khu vực phi lợi nhuận; hai là, vềquyền lực hoạt động, các đơn vị trong khu vực công được giao một số quyền hạn nhất định có tính chất bắt buộc, cưỡng chế mà các cơ quan tư nhân không thể có được. Giáo sư Lionel Ouellet thuộc Trường Hành chính Quốc gia Québec - Canada định nghĩa: “Khu vực công là toàn bộ các cơ quan, các viên chức của cơ quan đó và các hoạt động của họ mà mục tiêu và mục đích đã được xã hội hóa tổng thể. Sự tồn tại và hoạt động của khu vực công đều phụ thuộc vào hệ thống chính trị”. 

Ở Việt Nam, thuật ngữ khu vực công - khu vực tư mới được sử dụng trong những năm gần đây khi nền kinh tếnước ta chuyển sang cơ chế thị trường kéo theo sự xuất hiện và phát triển mạnh mẽ của các chủ thể phi nhà nước tồn tại song song cùng Chính phủ và các doanh nghiệp nhà nước, tạo thành một bộ phận có vai trò ngày một lớn trong tiến trình phát triển quốc gia, gọi là khu vực tư.

Về nguồn gốc lịch sử, khu vực tư được hình thành từ rất sớm, từ khi xã hội loài người có sản xuất hàng hóa và sự chiếm hữu tư liệu sản xuất. Khu vực tư tồn tại, phát triển ngày càng đa dạng và chiếm tỉ trọng cao trong nền kinh tế của mọi quốc gia nói chung và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta nói riêng. Có thể nói, khái niệm khu vực công (public sector) cần được xem như một thuật ngữ mới và do đó khi nói đến khu vực công người ta thường hiểu nó như khu vực nhà nước (state sector) và trong nhiều tài liệu về khoa học hành chính thì hai thuật ngữ này hoàn toàn trùng nhau. Nhưng đôi khi, khu vực công còn bị người ta đồng nhất với khu vực công cộng, điều này chưa phản ánh đúng ý nghĩa của nó. Khu vực công hay khu vực nhà nước là để phân biệt với khu vực tư (khu vực không phải nhà nước), khu vực công là khu vực hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội mà Nhà nước là người quyết định, trong khi đó khu vực tư là khu vực do tư nhân quyết định.Trong bối cảnh và xu hướng phát triển ở Việt Nam hiện nay, khu vực tư đang phát triển mạnh, giữ vai trò ngày một quan trọng trong cấu trúc kinh tế - xã hội 

Tuy nhiên, sự phân biệt giữa khu vực công - khu vực tư trong nhiều lĩnh vực ngày nay đang không thật sự rõ ràng. Thực tế cho thấy, khi các doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hoá, bộ máy quản trị sẽ hoạt động theo các nguyên tắc như một doanh nghiệp tư nhân. Ngược lại, khi nhiều tập đoàn kinh tế tư nhân phát triển mạnh, dẫn đến hệ lụy là bản thân họ cũng hình thành các phương thức quản trị phức tạp hơn, tiệm cận với những phương thức quản trị nhà nước nhưng ở một mức độ và cách thức thể hiện khác. Trong số đó, thanh tra, kiểm tra trong khu vực tư cũng có xu hướng vận hành giống như khu vực công, dưới dạng các thiết chế kiểm soát nội bộ, thanh tra công ty, thanh tra tập đoàn… Tuy nhiên, chủ thể,mục đích và phương thức thanh tra, kiểm tra của hai khu vực này có những điểm khác nhau cơ bản dẫn đến những kết quả khác nhau. 

II. Những điểm khác giữa thanh tra, kiểm tra khu vực công và khu vực tư

1. Các chủ thể trong mối quan hệ thanh tra, kiểm tra

Kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc trụ cột trong tổ chức và vận hành của bộ máy nhà nước để bảo đảm quyền lực nhà nước được sử dụng đúng đắn và hiệu quả. Hành pháp được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc xây dựng và quản lý về mặt hành chính nhà nước các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội và hành chính - chính trị. Hoạt động thanh tra, kiểm tra là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước trong hành pháp. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của khu vực công hiện nay đang được tiến hành ở hai dạng: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Có thể hiểu, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra nội bộ, hướng vào bên trong nhà nước, trong khi thanh tra chuyên ngành hướng ra bên ngoài xã hội. Có thể nói, đối với khu vực công, đối tượng bị thanh tra, kiểm tra bao gồm cả Nhà nước và xã hội.

Khác với khu vực công, khu vực tư không tồn tại hoạt động thanh tra, kiểm tra hướng ra bên ngoài xã hội. Hoạt động thanh tra, kiểm tra khu vực tư chỉ hướng vào bên trong. Theo đó, đối tượng chịu thanh tra, kiểm tra là bản thân các công ty, tập đoàn, các tổ chức và doanh nghiệp tư nhân… Sự khác biệt so với khu vực công này là hết sức dễ hiểu. Bởi Nhà nước, đại diện cho quyền lực nhân dân, giữ vai trò quản lý và vận hành xã hội. Với địa vị, vai trò pháp lý này, Nhà nước có tư cách, thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể trong xã hội nhằm bảo đảm các chủ thể trong cấu trúc kinh tế - xã hội vận hành hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngược lại, nguồn gốc của khu vực tưkhông bắt nguồn từ quyền lực nhân dân. Các chủ thể trong khu vực này xuất hiện, hoạt động và tồn tại dựa trên lợi ích của riêng nó. Các công ty, tập đoàn,tổ chức tư nhân không có thẩm quyền, chức năng tiến hành hoạt động thanh tra, kiểm tra đối với cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp khác trong xã hội. Trên thực tế, các chủ thể này vẫn có thể thực hiền quyền giám sát các chủ thể tư khác thông qua việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đối với cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra cũng như xử lý sai phạm hoàn toàn không thuộc về họ.

2. Mục đích của thanh tra, kiểm tra

Mục đích của thanh tra là phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật; phát huy những nhân tố tích cực; phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật. Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật. Thanh tra, kiểm tra, giám sát là cách thức phân tích một cách sâu sắc, đầy đủ nhất các nguyên nhân, mục đích, tính chất, mức độ của một hành vi vi phạm. 

Đối với khu vực công, thanh tra, kiểm tra góp phần chống tham nhũng, quan liêu, làm trong sạch bộ máy nhà nước và nâng cao chất lượng dịch vụ. Dịch vụ công ngoài yếu tố phục vụ xã hội còn là công cụ để quản lý xã hội. Đối với một số lĩnh vực, dịch vụ công có tính độc quyền như dịch vụ đăng ký sở hữu trí tuệ, dịch vụ đăng ký quyền sử dụng đất, dịch vụ cung cấp điện, v.v… Những dịch vụ này chỉ có khu vực công cung cấp, không có dịch vụ tư nhân nào thay thế hoặc tồn tại song hành. Trong khi đó, giải pháp chính sách về xã hội hóa cung ứng dịch vụ công được thực hiện cầm chừng ở các bộ, ngành và địa phương.Hơn nữa, văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn ban hành chậm trễ, mục tiêu chính sách cung ứng dịch vụ công chưa rõ, do đó việc đánh giá đổi mới chính sách cung ứng dịch vụ công còn gặp khó khăn.

Đối với khu vực tư, thanh tra, kiểm soát làm trong sạch bộ máy quản trị, nâng cao chất lượng, bảo vệ uy tín doanh nghiệp, tổ chức. Khác với khu vực công và dịch vụ công, khu vực tư hoàn toàn bị chi phối bởi quy luật thị trường. Sự thành bại của một doanh nghiệp phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Hệ quả là chất lượng dịch vụ, sản phẩm đóng vai trò chủ đạo trong mục đích thanh tra, kiểm tra.Những yếu tố tiền đề để tiến hành thanh tra, kiểm tra là cảm nhận, ý kiến, kiến nghị của đối tác, khách hàng, công chúng. Điều này không hoàn toàn được hiểu theo logic rằng chất lượng dịch vụ, sản phẩm tốt đồng nghĩa với việc không có nội dung để tiến hành thanh tra, kiểm tra. Nhưng chắc chắn, chừng nào còn phản biện, chừng nào còn ý kiến trái chiều chứng tỏ bộ phận đó, khâu quản lý đó còn vấn đề để tiến hành thanh tra, kiểm tra.Vì vậy, kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra của sản phẩm, dịch vụ và thanh tra, xử lý nhanh chóng các trường hợp vi phạm gây ảnh hưởng đến tiến độ công việc, uy tín là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. 

Không chỉ có chất lượng đầu ra, chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên bên trong cũng là một trong những mục đích quan trọng của hoạt động thanh tra, kiểm tra. Ở các doanh nghiệp nhỏ, công việc này thuộc trách nhiệm của bộ phận nhân sự. Các doanh nghiệp quy mô lớn hoặc rất lớn tổ chức hẳn các bộ phận, phòng, ban, khối “kiểm soát nội bộ”. Nếu như mục đích của thanh tra quy định trong Luật thanh tra là để “phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý…; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật..”, thì khu vực tư, ngoài yếu tố hợp pháp (tuân thủ quy định của công ty, tập đoàn, tổ chức), hiệu quả công việc được cho là căn cứ quan trọng để giám sát vấn đề con người trong nội bộ doanh nghiệp, tổ chức. Nói một cách ngắn gọn, ở khu vực tư, đánh giá chất lượng cán bộ nhân viên được gắn với công tác thanh tra, kiểm tra. Hệ lụy của nó là một nhân viên hoặc một lãnh đạo cấp cao trong doanh nghiệp, tổ chức có thể bị kỷ luật do không hoàn thành chất lượng công việc, bất chấp việc anh ta tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc và quy định của công ty hoặc tổ chức. Điều này hoàn toàn khác so với khu vực công bởi đánh giá chất lượng công chức, viên chức không hoàn toàn gắn với hoạt động thanh tra, kiểm tra hành chính. Hơn nữa, khu vực tư còn thể hiện sự vượt trội so với khu vực công trong vấn đề đánh giá chất lượng cán bộ nhân viên. Ở gần như tất cả các công ty, doanh nghiệp, mỗi chức danh, chức vụ sẽ có bản mô tả công việc và kế hoạch làm việc hàng tháng mà dựa vào đó các nhà quản lý sẽ áp dụng các chỉ số đánh giá hiệu quả của chức danh, chức vụ đó. Key Performance Indicator (KPI) là tên gọi tiếng anh của hệ thống các chỉ số này. Dựa trên việc hoàn thành hay không hoàn thành KPI, công ty, doanh nghiệp sẽ có các chế độ thưởng phạt, cũng như xem xétkỷ luật, sa thải đối với từng cá nhân. Ngược lại, trong khu vực công, những khái niệm như mô tả công việc, kế hoạch làm việc chi tiết hay chỉ tiêu hoàn thành công việc vẫn còn hết sức mơ hồ, không rõ ràng, nếu có cũng chỉ mang tính định tính, thậm chí hình thức. Gắn công tác đánh giá hiệu quả công việc của cán bộ nhân viên với hoạt động thanh tra, kiểm tralà một việc làm đúng đắn, thiết thực tuy nhiên việc áp dụng công cụ này đối với khu vực công còn là một chặng đường dài.

3. Phương thức thanh tra, kiểm tra

Cách một doanh nghiệp, công ty thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động của mình rõ ràng sẽ rất khác so với hoạt động của Thanh tra Chính phủ hay Thanh tra Tỉnh (thanh tra chuyên ngành không được dẫn chiếu để so sánh ở đây bởi lý do khu vực tư không có chức năng thanh tra, kiểm tra ra ngoài xã hội như đã phân tích ở trên). Tổ chức các ban thanh tra, kiểm soát nội bộ tại các Tổng Công ty, Tập đoàn lớn hiện nay vẫn còn một khoảng cách rất xa so với các thiết chế thanh tra, kiểm tra nhà nước ở nhiều khía cạnh, đặc biệt trong phương thức thực hiện.

Yếu tố then chốt của các cuộc thanh tra, kiểm tra là vấn đề thông tin liên quan đến sự việc. Khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị là những kênh phản biện của xã hội đóng vai trò như là những căn cứ quan trọng để tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan công quyền. Tương tự, ở khu vực tư, như đã phân tích ở mục 2, phản biện của khách hàng, người sử dụng sản phẩm, dịch vụ hay thậm chí là mạng xã hội nói chung đóng vai trò tiền đề của các cuộc thanh tra, kiểm tra. Ở khía cạnh này, khu vực tư thể hiện sự ưu việt, linh hoạt hơn nhiều so với khu vực công. Đơn cử nếu như khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật phải được viết thành đơn thì các kênh phản biện của khu vực tư hết sức đa dạng, gần như không có giới hạn về hình thức: thư, email, điện thoại thậm chí là bình luận của một cá nhân trên mạng xã hội đều nhanh chóng được tiếp nhận và phản hồi. 

Tiếp theo, về vấn đề thẩm quyền, Luật khiếu nại, tố cáo có hẳn một mục quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại, thẩm quyền giải quyết tố cáo với nhiều cơ quan, chủ thể khác nhau (Chủ tịch UBND các cấp; Giám đốc sở; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ; Tổng thanh tra; Chánh thanh tra tỉnh…). Ngược lại, khu vực tư nhân áp dụng gần như triệt để nguyên tắc một cửa trong việc tiếp nhận ý kiến, phản biện của xã hội. Đại đa số các doanh nghiệp tư nhân đều công khai thông tin liên lạc của bộ phận giải quyết các vấn đề liên quan đến khách hàng. Sự thông thoáng, đơn giản và hết sức cởi mở này giúp doanh nghiệp lắng nghe sát sao tâm tư, nguyện vọng, nhận biết và giải quyết kịp thời vấn đề của mình với khách hàng. So sánh đơn giản, một người muốn khiếu nại ở khu vực công thì phải tìm hiểu luật, tìm được đúng cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết cho vấn đề của mình. Còn ở khu vực tư, việc duy nhất người này cần làm là gọi điện hoặc gửi email đến tổng đài hoặc dịch vụ chăm sóc khách hàng mà không cần phải xác định vấn đề của mình là gì, mức độ thế nào, ai là người có trách nhiệm giải quyết.

Điểm khác nhau tiếp theo nằm ở việc khu vực công tiến hành thanh tra, kiểm tra theo một quy trình hết sức phức tạp bao gồm nhiều trình tự, thủ tục. Ví dụ, quá trình chuẩn bị thanh tra đã phải trải qua các bước: khảo sát, nắm tình hình; ra quyết định; xây dựng, phê duyệt kế hoạch tiến hành; phổ biến kế hoạch tiến hành thanh tra; xây dựng đề cương yêu cầu đối tượng thanh tra báo cáo… Khác với các cơ quan thanh tra, kiểm tra nhà nước, các doanh nghiệp, tập đoàn không dồi dào về nguồn lực, thời gian để tiến hành việc thanh tra, kiểm soát nội bộ. Nhưng điều đó không đồng nghĩa rằng công việc này được tiến hành một cách hời hợt. Giảm bớt những quy trình, thủ tục rườm rà, không cần thiết, các ban thanh tra, kiểm soát nội bộ thường tiến hành thanh tra, kiểm tra một cách quyết liệt nhưng nhanh chóng, gọn gàng. Nhiệm vụ này thực tế bị chịu áp lực lớn từ lãnh đạo công ty, doanh nghiệp bởi như phân tích ở mục 2, kiểm soát chặt chẽ, xử lý kịp thời các tác nhân gây ảnh hưởng tới hoạt động của doanh nghiệp hay nguy hiểm hơn là chất lượng đầu ra (sản phẩm, dịch vụ) là yếu tố sống còn. Ở một tập đoàn lớn luôn bảo đảm chất lượng dịch vụ5 sao, thái độ không đúng mực trong việc chăm sóc khách hàng của ngay một nhân viên bảo vệ cũng có thể dẫn đến những thiệt hại không nhỏ. Thanh tra, kiểm tra và xử lý nhanh chóng sai phạm, lược bỏ các yếu tố thủ tục, hình thức là một đòi hỏi cấp bách đối với mỗi chủ thể tư nhân nếu muốn tồn tại trong cuộc chơi thị trường. 

II. Kết luận

Nhìn chung, khi đi vào chi tiết, thanh tra, kiểm tra ở từng khu vực đảm nhiệm những vai trò khác nhau nhưng giống nhau về bản chất. Qua việc đánh giá mức độ hiệu quả của từng mô hình, chúng ta có thể thẳng thắn nhận thấy rằng thanh tra, kiểm tra ở khu vực tư hoạt động hiệu quả hơn khu vực công. Sự trùng lắp trong các khâu kiểm soát, trình tự tiến hành rườm rà, hình thức triển khai không tinh gọn… là những nguyên nhân có thể kể đến khiến cho công tác thanh tra, kiểm tra hành chính vận hành chưa thật sự hiệu quả. So với những vi phạm diễn ra trong toàn bộ máy hành chính thì số lượng kết luận thanh tra, kiểm tra chưa thật sự đáng kể. Thêm vào đó, tham nhũng vặt diễn ra khắp nơi, qua từng biểu hiện của cán bộ khiến cho việc kiểm tra, kiểm soát gặp nhiều khó khăn. Việc làm trong sạch bộ máy hành chính là trách nhiệm hàng đầu của các cán bộ thanh tra nhưng làm thế nào và tiến hành ra sao để đạt hiệu quả là một câu hỏi lớn. Cách triển khai công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát ở khu vực tư là một mô hình đáng học hỏi để cải thiện chất lượng thanh tra, kiểm tra trong khu vực công hiện nay.


TS. Đinh Lương Minh Anh

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: