Thực trạng tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan Thanh tra Nhà nước, kiến nghị giải pháp khắc phục    
Cập nhật: 28/09/2020 10:19
Xem lịch sử tin bài

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy rằng: “Cán bộ Thanh tra như cái gương cho người ta soi, gương mờ thì không soi được”. Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ đang tập trung xây dựng nền công vụ liêm chính, phục vụ, kiến tạo phát triển và tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thì sự trong sạch, liêm chính của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác thanh tra có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Thanh tra là một chức năng thiết yếu, quan trọng của quản lý, là phương thức bảo đảm pháp chế, tăng cường kỷ cương trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, thực hiện quyền dân chủ của Nhân dân. Thông qua hoạt động thanh tra, những lỗ hổng, sự bất hợp lý trong các chủ trương, chính sách, pháp luật được phát hiện và kiến nghị sửa đổi, điều chỉnh; những sơ hở, yếu kém trong công tác quản lý được phát hiện, chấn chỉnh để nâng cao hiệu quả quản lý. Cũng qua hoạt động thanh tra, những sai phạm trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật được phát hiện, xử lý, nhất là những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Những điều này có ý nghĩa quan trọng xuyên suốt trong quá trình thành lập và hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước và đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện các thiết chế trong bộ máy nhà nước, tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

 

Trong những năm qua, các cơ quan Thanh tra Nhà nước và mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành Thanh tra đều đã nỗ lực thực hiện nhiệm vụ của mình và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Qua hoạt động thanh tra, các cơ quan thanh tra đã kiến nghị thu hồi số lượng lớn tiền, tài sản, đất đai bị thất thoát và kiến nghị xử lý nhiều trường hợp vi phạm pháp luật, kiến nghị hoàn thiện chính sách, pháp luật trên nhiều lĩnh vực, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Tuy nhiên, cũng đã xảy ra không ít những vụ việc tham nhũng, tiêu cực liên quan đến cán bộ, công chức, viên chức trong Ngành Thanh tra, thậm chí là cán bộ thanh tra làm công tác PCTN, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín của Ngành Thanh tra, niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy Nhà nước và công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực mà thanh tra là một trong những lực lượng nòng cốt. Chính vì vậy mà việc đánh giá thực trạng tham nhũng, tiêu cực trong ngành Thanh tra để đề ra những giải pháp khắc phục là nhiệm vụ rất cần thiết và hết sức cấp bách hiện nay.

 

1. Khái quát về tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và kết quả công tác chủ yếu của các cơ quan thanh tra nhà nước.

 

Theo quy định tại Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010, Cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ; Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh); Thanh tra sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Thanh tra huyện).

 

Chức năng chung của các cơ quan Thanh tra Nhà nước được quy định tại Điều 5 Luật thanh tra như sau: “Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật”.

 

Trong các cơ quan thanh tra nhà nước thì Thanh tra Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng. Các cơ quan thanh tra nhà nước khác là cơ quan giúp thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tham gia thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.

 

Toàn ngành Thanh tra hiện có trên 23.000 cán bộ, công chức, người lao động (chưa tính lực lượng Thanh tra Bộ Quốc phòng, Bộ Công an); trong đó: Thanh tra viên cao cấp: 136 người; Thanh tra viên chính: 2.218 người, Thanh tra viên: 10.438; cán bộ, công chức, người lao động khác: 10.443. Biên chế của thanh tra bộ, ngành do bộ, ngành quản lý trực tiếp. Biên chế của thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện, cấp sở do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp và Giám đốc sở trực tiếp quản lý. Thanh tra Chính phủ chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về tổ chức, nghiệp vụ thanh tra; thống nhất bổ nhiệm Chánh Thanh tra bộ, ngành, địa phương; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra; công tác thi đua - khen thưởng trong ngành Thanh tra; cấp thẻ thanh tra viên; phối hợp tổ chức thi nâng ngạch công chức thanh tra cho toàn ngành Thanh tra.

 

Trong lĩnh vực thanh tra, giai đoạn từ 01/7/2011 đến 30/6/2019, toàn ngành Thanh tra đã triển khai 61.860 cuộc thanh tra hành chính và 1.668.899 cuộc thanh tra, kiểm tra chuyên ngành. Qua thanh tra đã kiến nghị thu hồi về ngân sách nhà nước 312.829 tỷ đồng và 357.455 ha đất; xuất toán, loại khỏi giá trị quyết toán do chưa thực hiện đúng quy định và đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét xử lý 279.998 tỷ đồng, 30.842 ha đất; đã kiến nghị xử lý kỷ luật hành chính đối với 12.651 tập thể, 33.315 cá nhân; xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 32.340 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý 669 vụ, 886 đối tượng([1]). Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sơ hở, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật và kiến nghị khắc phục, hoàn thiện; đã tích cực, chủ động trong phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật; hỗ trợ các cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

 

Đặc biệt là trong công tác phòng, chống tham nhũng, ngoài việc thực hiện tốt các nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng, chống tham nhũng, qua hoạt động thanh tra, ngành Thanh tra đã phát hiện, kiến nghị xử lý nhiều vụ việc có dấu hiệu tham nhũng: Giai đoạn 2007 - 2016, toàn ngành Thanh tra phát hiện 670 vụ với 1.815 đối tượng có hành vi, biểu hiện tham nhũng với số tiền, tài sản liên quan là 1.022 tỷ đồng, 73,6 ha đất; chuyển cơ quan điều tra 274 vụ, 429 đối tượng có dấu hiệu tội phạm tham nhũng([2]). Giai đoạn năm 2017 - 2019 phát hiện 283 vụ, 358 đối tượng có hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng, trong đó có vụ việc đặc biệt nghiêm trọng phát hiện qua thanh tra Dự án Tổng công ty Viễn thông Mobifone mua 95% cổ phần của Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn cầu (AVG), đã chuyển cơ quan điều tra để xử lý hình sự và kiến nghị thu hồi được riêng trong vụ việc này là trên 8.500 tỷ đồng.

 

Trong lĩnh vực tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, ngành Thanh tra đã đóng góp vai trò quan trọng và chủ yếu đối với kết quả thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước: Giai đoạn 2016 - 2019, cơ quan hành chính nhà nước đã tiếp 1.627.039 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, với 802.971 vụ việc, có 18.049 đoàn đông người. Riêng Thanh tra Chính phủ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tốt công tác tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở tiếp công dân Trung ương ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; đã tiếp 79.631 lượt người, với 21.275 vụ việc; có 2.181 lượt đoàn đông người. Số đơn thư các loại đã tiếp nhận, xử lý là 1.114.839 đơn. Riêng Thanh tra Chính phủ tiếp nhận, xử lý 56.026 đơn thư các loại. Đã giải quyết 111.248 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước, trả lại cho tập thể, cá nhân gần 1.360 tỷ đồng, 196 ha đất; bảo vệ quyền lợi cho 7.327 người; kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 1.904 người, chuyển cơ quan điều tra 49 vụ([3]).

 

Như vậy, với tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, kết quả công tác chủ yếu của các cơ quan thanh tra nhà nước như đã nêu trên, có thể thấy rõ một số đặc điểm có ảnh hưởng quan trọng đến tình hình và công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan thanh tra nhà nước như sau:

 

- Các cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức trong hệ thống bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, bao quát các lĩnh vực của quản lý nhà nước. Phạm vi hoạt động của thanh tra rất rộng, gắn liền với việc thực thi quyền hành pháp, phạm vi quản lý nhà nước của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và cả công tác quản lý trong nội bộ các cơ quan hành chính nhà nước. Ngành Thanh tra có chức năng, thẩm quyền trực tiếp đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực như một số Ngành khác (công an, kiểm toán, viện kiểm sát, tòa án, thi hành án) nhưng không tổ chức theo ngành dọc mà theo mô hình song trùng trực thuộc.

 

- Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan thanh tra nhà nước có số lượng khá lớn, hoạt động đa dạng. Thẩm quyền rộng, liên quan đến nhiều đối tượng quản lý khác nhau. Vừa trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp, vừa tham gia kiểm soát các cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức thuộc lĩnh vực khác trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ, vừa tham gia giám sát, kiểm soát hoạt động trong nội bộ.

 

- Kết quả công tác chủ yếu của ngành Thanh tra cho thấy vai trò quan trọng và mức độ tác động rộng lớn của các hoạt động của cơ quan thanh tra nhà nước, có thể gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là đối tượng thanh tra hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan, cả về kinh tế, chính trị, đồng thời có sự tác động không nhỏ đối với dư luận xã hội.

 

2. Tình hình tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước và nguyên nhân.

 

2.1. Tình hình tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước.

 

Qua thống kê sơ bộ theo Văn bản số 580/TTCP-C.IV ngày 22/4/2020 của Thanh tra Chính phủ, trong thời kỳ từ năm 2013 đến 31/3/2020, trong các cơ quan thanh tra nhà nước đã xảy ra 71 vụ việc tham nhũng, tiêu cực, trong đó 3 vụ việc xảy ra tại thanh tra cấp bộ, 16 vụ việc xảy ra tại thanh tra cấp tỉnh, 42 vụ tại Thanh tra cấp huyện và 9 vụ tại Thanh tra sở. Số cán bộ, công chức, viên chức thanh tra có hành vi tham nhũng, tiêu cực là 105 người. Thiệt hại do các vụ việc tham nhũng, tiêu cực gây ra tổng cộng là 17,9 tỷ đồng đã cơ bản được khắc phục.

 

Một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong thời gian gần đây đã được phát hiện, xử lý, điển hình như: Vụ 7 cán bộ Thanh tra Giao thông ở Cần Thơ, nhận hối lộ tổng cộng 4 tỷ đồng. Đối tượng bị xử phạt với mức án cao nhất là tù chung thân. Vụ 05 cán bộ Thanh tra tỉnh Thanh hóa nhận hối lộ tổng cộng hơn 594 triệu đồng, bị xử phạt mức án cao nhất là 40 tháng tù. Vụ 04 cán bộ Thanh tra Bộ Xây dựng lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt hơn 02 tỷ đồng đã kết thúc điều tra, chuẩn bị truy tố; Vụ bảo kê Logo “xe vua” ở Hà Nội có 04 cán bộ Thanh tra giao thông tham gia và đang bị truy tố về tội nhận hối. Vụ Chánh Thanh tra Bộ thông tin và Truyền thông lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ, bị xử án 34 tháng cải tạo không giam giữ… Mới đây, Công an tỉnh Đắk Lăk đã khởi tố, điều tra 01 cán bộ thanh tra Sở Nội vụ của tỉnh Đắk Lăk về tội nhận hối lộ trong khi tiến hành hoạt động thanh tra chuyên ngành…

 

Từ kết quả phát hiện tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan thanh tra nhà nước và những vụ việc điển hình gần đây cho thấy, đặc trưng của các vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong hoạt động công vụ của các cơ quan thanh tra nhà nước là cán bộ thanh tra nhận hối lộ để bỏ qua vi phạm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong những vụ việc cụ thể hoặc có hành vi chủ động dọa nạt, vòi vĩnh, đòi hối lộ để bỏ qua vi phạm, thậm chí một số vụ việc đã có hành vi nhận hối lộ thường kỳ để bảo kê cho hoạt động vi phạm.

 

Một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực xảy ra trong các cơ quan thanh tra nhà nước gần đây là vụ việc có tổ chức, có sự bàn bạc, thống nhất, phân công trách nhiệm giữa các cán bộ thanh tra để cùng thực hiện hành vi vi phạm. Ví dụ như vụ Đoàn thanh tra tỉnh Thanh hóa, hay Đoàn thanh tra Bộ Xây dựng nêu trên. Đặc điểm này cũng xuất phát từ phương thức hoạt động thanh tra do Đoàn thanh tra tiến hành. Cá biệt, có vụ việc Người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở hoạt động thanh tra nhằm bao che cho vi phạm như vụ việc Chánh Thanh tra Bộ thông tin và Truyền thông nêu trên.

 

Xét về tính chất, mức độ thì tham nhũng trong các cơ quan thanh tra Nhà nước có tính chất ít nghiêm trọng và mức độ ít phổ biến thể hiện qua số lượng vụ việc, đối tượng vi phạm không nhiều, thiệt hại về giá trị kinh tế gây ra không lớn. Nhiều bộ, ngành, địa phương hoàn toàn không xảy ra vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Không loại trừ do độ ẩn cao của hành vi tham nhũng và năng lực phát hiện, xử lý của cơ quan chức năng, nhưng qua khảo sát ý kiến đánh giá của 345 cán bộ thanh tra ở tất cả các bộ, ngành, địa phương về mức độ phổ biến của tham nhũng trong cơ quan thanh tra nhà nước ở bộ, ngành, địa phương thì chỉ 2,9% cho rằng tham nhũng xảy ra rất phổ biến; 24,3 % cho rằng xảy ra phổ biến, 51,8 % cho rằng ít phổ biến và 21 % cho rằng không phổ biến. Kết quả đánh giá nêu trên cũng tương đồng giữa 3 nhóm cán bộ thanh tra khác nhau được hỏi ý kiến đánh giá gồm: lãnh đạo cơ quan thanh tra, cán bộ quản lý cấp phòng và cán bộ không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý. Ý kiến đánh giá về mức độ nghiêm trọng của tình hình tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan thanh tra nhà nước ở bộ, địa phương cho thấy chỉ 4,9% cho rằng mức độ đặc biệt nghiêm trọng; 19,1% cho rằng rất nghiêm trọng. 33,9% cho rằng nghiêm trọng, 29,5% cho rằng ít nghiêm trọng và 12,6% cho rằng không nghiêm trọng.

 

Tuy các ý kiến đánh giá tham nhũng trong các cơ quan thanh tra Nhà nước ở bộ, địa phương chủ yếu ở mức độ ít phổ biến và không phổ biến (72,8%) nhưng có đến 58,9% ý kiến đánh giá tính chất từ nghiêm trọng trở lên. Trong khi đó ý kiến cho rằng tình hình ít nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng chỉ chiếm 42,1%. Kết quả khảo sát cũng cho thấy hành vi tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan thanh tra nhà nước có mức độ ảnh hưởng tiêu cực về chính trị- xã hội rất lớn với 67,4% cho rằng ảnh hưởng ở mức nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng.

 

Về lĩnh vực có nguy cơ xảy tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước, kết quả khảo sát cho thấy lĩnh vực thanh tra thuộc nhóm có nguy cơ xảy ra tham nhũng, tiêu cực cao nhất với 73,7 % ý kiến đánh giá có nguy cơ và nguy cơ cao, chỉ có 26,3 % đánh giá có nguy cơ thấp. Trong khi đó, các lĩnh vực khác đa số đánh giá có nguy cơ thấp như: lĩnh vực tiếp công dân có đến 72,6 % ý kiến đánh giá nguy cơ thấp; lĩnh vực giải quyết khiếu nại là 67 %, lĩnh vực giải quyết tố cáo 60,4 % và lĩnh vực phòng, chống tham nhũng 54,8 % đánh giá nguy cơ thấp.

 

Kết quả khảo sát để tìm hiểu khâu nào của hoạt động thanh tra thường xuất hiện những biểu hiện của tham nhũng, tiêu cực và biểu hiện cụ thể của nó cho thấy cả khâu chuẩn bị thanh tra, tiến hành thanh tra, kết thúc thanh tra đều xuất hiện những biểu hiện với mức độ khác nhau:

 

- Một số hành vi tuy không nhiều nhưng có biểu hiện xảy ra trong giai đoạn chuẩn bị thanh tra như can thiệp trái pháp luật vào việc xây dựng kế hoạch thanh tra, can thiệp trái pháp luật vào việc khảo sát, thu thập thông tin trước khi ban hành quyết định thanh tra; sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra, yêu cầu cung cấp thông tin không thuộc phạm vi nhiệm vụ được giao; không đưa một số đối tượng, nội dung cần thanh tra vào diện phải tiến hành thanh tra vì mục đích cá nhân.

 

- Giai đoạn tiến hành thanh tra thì có nhiều biểu hiện hơn với những hành vi như: thanh tra vượt quá phạm vi, nội dung trong quyết định thanh tra; tự ý loại bỏ nội dung thanh tra đã ghi trong quyết định thanh tra; lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ thanh tra để giải quyết công việc cá nhân; sử dụng các quyền trong hoạt động thanh tra không đúng (sử dụng khi không cần thiết hoặc không sử dụng khi cần thiết); yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu tràn lan, gây
khó khăn cho đối tượng thanh tra; kéo dài thời gian thanh tra; làm sai lệch hồ sơ vụ việc trong quá trình thanh tra; bỏ qua sai phạm của đối tượng thanh tra, nhận lợi ích không chính đáng từ đối tượng thanh tra.

 

- Giai đoạn kết thúc thanh tra cũng có những biểu hiện như Báo cáo kết quả thanh tra chưa khách quan, trung thực; tiết lộ nội dung báo cáo kết quả thanh tra, kết luận thanh tra khi chưa được người có thẩm quyền phê duyệt; kéo dài thời gian báo cáo kết quả thanh tra, thời gian ban hành kết luận thanh tra; Kết luận về sai phạm của đối tượng thanh tra nhẹ hơn so với thực tế; can thiệp trái phép vào quá trình đôn đốc thực hiện kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra.

 

Ngoài ra còn có một số biểu hiện khác như: không báo cáo với người có thẩm quyền về các tình huống xung đột lợi ích của thành viên đoàn thanh tra; dọa nạt, sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng thanh tra, đơn vị, cá nhân có liên quan; gợi ý đối tượng thanh tra tặng, cho các lợi ích vật chất, tinh thần…

 

Tình trạng doanh nghiệp phải chi trả chi phi không chính thức liên quan đến hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng là dấu hiệu của biểu hiện tiêu cực trong hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng này đã có sự thuyên giảm rõ nét. Qua khảo sát trên 10.000 doanh nghiệp cho thấy, tỷ lệ doanh nghiệp phải trả chi phí không chính thức cho hoạt động thanh tra, kiểm tra năm 2017 là 51,9% nhưng đến năm 2019 tỷ lệ này chỉ còn 39,3% (Văn bản số 1093/PTM-PC ngày 15/7/2017 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam).

 

2.2. Nguyên nhân

 

Tình hình tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan thanh tra do nhiều nguyên nhân. Chủ yếu là nguyên nhân chủ quan từ phía cán bộ làm công tác thanh tra và những hạn chế trong công tác phòng, chống tham nhũng của các cơ quan thanh tra nhà nước, cụ thể như sau:

 

- Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan thanh tra nhà nước thiếu tinh thần phục vụ, thiếu trách nhiệm trong công việc, thiếu tu dưỡng, rèn luyện; suy thoái về tư tưởng, đạo đức công vụ dẫn đến đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi tham nhũng, tiêu cực. Công tác quản lý, giáo dục cán bộ, công chức, viên chức ở một số cơ quan thanh tra nhà nước còn chưa được thường xuyên, chặt chẽ.

 

- Người đứng đầu một số cơ quan Thanh tra Nhà nước chưa đề cao trách nhiệm nêu gương, chưa gương mẫu thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong thực hiện nhiệm vụ. Cá biệt có nơi như tại Bộ Thông tin và Truyền thông, người đứng đầu cơ quan thanh tra nhà nước lại thực hiện hành vi tham nhũng.

 

- Cơ quan thanh tra nhà nước có quyền hạn, phạm vi quản lý rộng, đối tượng quản lý đa dạng nhưng nhưng cơ chế để kiểm soát quyền lực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra chưa chặt chẽ. Quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra còn thiếu cụ thể, việc thực hiện chưa nghiêm; Quy định về quy tắc ứng xử, phòng, chống tham nhũng trong ngành đã được ban hành nhưng không được theo dõi, đánh giá thường xuyên, chậm được rà soát, đổi mới. Các quy định về kiểm soát xung đột lợi ích trong hoạt động thanh tra còn tản mạn, thiếu cụ thể. Công tác thanh tra, kiểm tra trong nội bộ trong các cơ quan thanh tra nhà nước chưa được chú trọng đúng mức, chưa chủ động, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm.

 

Công tác giám sát hoạt động của đoàn thanh tra chủ yếu tập trung giám sát về chuyên môn, nghiệp vụ, kế hoạch công tác mà chưa có cơ chế rõ ràng để giám sát chặt chẽ đối với cán bộ tham gia hoạt động thanh tra nhằm phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Với quy định hiện hành thì việc thực hiện giám sát gặp khó khăn, nhất là ở thanh tra cấp cơ sở do số lượng biên chế có hạn, trong khi cùng thời điểm phải tổ chức nhiều đoàn thanh tra nên không đủ người làm nhiệm vụ giám sát. Bên cạnh đó việc thực hiện giám sát còn mang nặng tính hình thức, thiếu thực chất và chưa hiệu quả.

 

Vai trò của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì hoạt động thanh tra trong mối quan hệ với Trưởng đoàn thanh tra và Người ra quyết định thanh tra còn mờ nhạt. Hoạt động “Thanh tra lại” đối với kết luận thanh tra của cấp dưới có vi phạm pháp luật chưa được quan tâm đúng mức.

 

- Mô hình tổ chức của các cơ quan thanh tra nhà nước còn dàn trải, thiếu tập trung, khó quản lý nhưng dễ bị chi phối:

 

Sự đan xen giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành, giữa thanh tra chuyên ngành và kiểm tra thường xuyên theo chức năng quản lý Nhà nước khiến cho hoạt động thanh tra, kiểm tra của các ngành trở nên dày đặc, gây khó khăn cho đối tượng quản lý và công tác quản lý đối với cán bộ làm công tác thanh tra. Việc kiểm soát các hoạt động trong toàn ngành với quy mô rộng lớn như hiện nay là hết sức khó khăn, nhất là hoạt động thanh tra thường xuyên trên các lĩnh vực quản lý nhà nước mà thực chất là hoạt động kiểm tra chuyên ngành trực tiếp tiếp xúc, giải quyết công việc của người dân, doanh nghiệp. Những tiêu cực, nhũng nhiễu đối với người dân, doanh nghiệp trong thời gian gần đây tại một số bộ ngành, địa phương phần nhiều là thanh tra chuyên ngành nhưng làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Ngành thanh tra.

 

Sự phân định về phạm vi thanh tra cũng không rõ ràng giữa ngành và cấp. Thanh tra Chính phủ thanh tra trách nhiệm quản lý của các Bộ và các tỉnh nhưng trên thực tế số cuộc thanh tra trách nhiệm không nhiều. Thanh tra Chính phủ thường tiến hành thanh tra trực tiếp về các lĩnh vực quản lý của các bộ, ngành, thậm chí trực tiếp thanh tra đến cấp huyện, xã ở địa phương. Điều này dẫn đến sự chồng chéo, trùng lặp trong hoạt động thanh tra, mặt khác làm giảm trách nhiệm của các ngành, địa phương trong việc chủ động thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, vốn là một yêu cầu tất yếu của cơ quan quản lý trong những lĩnh vực, địa bàn thuộc phạm vi mình phụ trách. Sự phân định không rõ ràng dễ dẫn đến cùng một nội dung có thể xảy ra thanh tra trùng lặp, gây khó khăn phiền hà cho đối tượng thanh tra, nhất là cho hoạt động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp.

 

Mặt khác, các cơ quan thanh tra nhà nước ở Bộ, ngành, địa phương đều được quản lý theo mô hình song trùng trực thuộc, chịu sự hướng dẫn và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn theo yêu cầu của Thanh tra Chính phủ nhưng quan trọng hơn là chịu sự chi phối toàn diện của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Mô hình này phù hợp với công tác quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực nhưng trong công tác thanh tra, đấu tranh phòng, chống tham nhũng lại gặp khó khăn, nhất là việc thanh tra cấp tỉnh, cấp huyện thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ của các sở, ngành, phòng, ban tham mưu thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, Uỷ ban nhân dân huyện sẽ có liên quan chặt chẽ đến các quyết định quản lý của Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp.

 

Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 giao Thanh tra Chính phủ thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người giữ chức vụ từ Giám đốc sở và tương đương trở lên công tác tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan, tổ chức do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan ở trung ương thực hiện; Thanh tra tỉnh thanh tra vụ việc có dấu hiệu tham nhũng do người công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp nhà nước thuộc thẩm quyền quản lý của chính quyền địa phương thực hiện, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền của Thanh tra Chính phủ nêu trên đã phần nào khắc phục vấn đề nêu trên, nhưng chưa bảo đảm toàn diện vì chỉ áp dụng đối với vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Đối với các vụ việc khác thì các cơ quan thanh tra nhà nước vẫn phải thực hiện quy định về thẩm quyền thanh tra theo Luật Thanh tra.

 

3. Giải pháp khắc phục tình trạng tham nhũng tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước

 

Xuất phát từ thực trạng và những nguyên nhân nêu trên, để khắc phục, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

 

1. Tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức lối sống cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan thanh tra nhà nước, thiết thực động viên tinh thần phục vụ, trách nhiệm trong công việc; bổ sung, tăng thời lượng các chuyên đề đào tạo, bồi dưỡng về liêm chính trong chương trình đào tạo cán bộ thanh tra các cấp, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

 

2. Trong công tác quản lý cán bộ, công chức, viên chức phải kịp thời phát hiện chấn chỉnh những biểu hiện, tư duy sai lệch, ngăn ngừa sai phạm; kiên quyết xử lý khi đã xảy ra vi phạm dù là vi phạm nhỏ, tránh tình trạng bao che, đơn giản hóa trong xử lý. Đặc biệt phải xử lý khẩn trương, nghiêm khắc đối với những trường hợp tái phạm hoặc vi phạm nghiêm trọng đã gây hậu quả để chấn chỉnh, răn đe.

 

3. Luôn phải đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị trong các cơ quan Thanh tra Nhà nước, nhất là người ra quyết định thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra. Thực hiện tốt phương châm “Lãnh đạo đi đầu, làm trước, gương mẫu để cấp dưới noi theo. Người có chức vụ lãnh đạo, quản lý mà vi phạm phải xử lý nghiêm khắc hơn cán bộ, công chức, viên chức khác.

 

4. Củng cố và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước. Chú trọng hoàn thiện quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động thanh tra, nhất là đối với hoạt động thanh tra hành chính và việc công khai kết luận thanh tra, công khai kết quả xử lý sau thanh tra; khẩn trương sửa đổi quy định về quy tắc ứng xử, phòng, chống tham nhũng  trong ngành Thanh tra nhằm kiểm soát chặt chẽ xung đột lợi ích trong hoạt động thanh tra.

 

5. Đổi mới việc tổ chức hoạt động thanh tra, kiểm tra trong nội bộ các cơ quan thanh tra nhà nước theo hướng có đơn vị chuyên trách hoặc giao chức năng thanh tra, kiểm tra nội bộ cho đơn vị có chức năng giám sát hoặc phòng, chống tham nhũng để chủ động, kịp thời phát hiện, xử lý vi phạm trong nội bộ.

 

6. Chú trọng hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan thanh tra nhà nước cấp trên đối với những kết luận thanh tra của cơ quan thanh tra nhà nước cấp dưới để kịp thời phát hiện, tổ chức thanh tra lại nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật, nhất là việc bỏ lọt hành vi vi phạm hoặc kiến nghị xử lý không nghiêm, không tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.

7. Quy định rõ vai trò của Thủ trưởng cơ quan, đơn vị chủ trì hoạt động thanh tra trong các quy trình, quy chế tiến hành thanh tra, giao cụ thể thẩm quyền và trách nhiệm trong việc thực hiện các khâu của hoạt động thanh tra, từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc hoạt động thanh tra, tránh tình trạng quyền hạn không tương xứng với trách nhiệm.

 

8. Tăng cường các thiết chế kiểm soát quyền lực từ bên ngoài đối với hoạt động của các cơ quan thanh tra nhà nước, đặc biệt là vai trò của các cơ quan có chức năng giám sát, kiểm tra, điều tra, vai trò giám sát, phản biện của tổ chức xã hội, vai trò của báo chí, công luận và mọi công dân thông qua việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, quy định về công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình trong việc thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra nhà nước, nhất là trong các cuộc thanh tra. Vừa trực tiếp kiểm soát quyền lực đối với cơ quan thanh tra nhà nước, vừa hạn chế sự can thiệp, tác động trái pháp luật từ bên ngoài đối với cơ quan thanh tra.

 

9. Đặc biệt, giải pháp quan trọng nhất và có ý nghĩa chiến lược, tác động trực tiếp và lâu dài đối với các cơ quan thanh tra nhà nước là cần sớm sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010 theo hướng làm rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của cơ quan thanh tra; tạo bước đổi mới về tổ chức và hoạt động thanh tra; tăng cường tính chủ động, tính tự chịu trách nhiệm của các cơ quan thanh tra trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Các cơ quan thanh tra phải được tổ chức theo hướng tinh gọn, hoạt động thực sự hiệu quả, hiệu lực, trở thành một thiết chế kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước và việc thực thi nhiệm vụ, công vụ trong các cơ quan hành chính nhà nước. 

 

Một số chính sách quan trọng, rất có ý nghĩa đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong ngành Thanh tra cần được ưu tiên xây dựng khi sửa đổi Luật thanh tra năm 2010 như:

 

 - Cơ quan thanh tra nhà nước được tổ chức tinh gọn tại hai cấp hành chính: Trung ương và cấp tỉnh. Thanh tra Chính phủ là cơ quan cao nhất thực hiện việc quản lý đội ngũ lãnh đạo, công chức các cơ quan thanh tra thông qua công tác đào tạo chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh, tiêu chuẩn ngạch bậc thanh tra viên, thực hiện đào tạo, luân chuyển trong hệ thống các cơ quan thanh tra, tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng, phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng yêu cầu của công tác thanh tra. Thanh tra Chính phủ chủ yếu tiến hành các cuộc thanh tra diện rộng để đánh giá việc thực hiện một chủ trương, chính sách, đánh giá việc chấp hành pháp luật trong một hoặc nhiều lĩnh vực quản lý; làm rõ trách nhiệm để kiến nghị xử lý các sai phạm đối với những vụ việc có dấu hiệu sai phạm liên quan đến trách nhiệm của nhiều ngành, nhiều cấp, những vụ việc được xã hội đặc biệt quan tâm. Thanh tra cấp tỉnh thực hiện thanh tra khi có dấu hiệu vi vi phạm pháp luật hoặc do yêu cầu của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng.

 

- Đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra các Bộ, ngành; tổ chức cơ quan thanh tra phù hợp với đặc điểm của từng bộ, ngành; phân biệt rõ giữa thanh tra theo lĩnh vực quản lý (thanh tra chuyên ngành) với thanh tra việc thực hiện chức trách nhiệm vụ, công vụ (thanh tra hành chính); phân biệt rõ giữa hoạt động thanh tra với các hình thức kiểm tra thường xuyên trên các lĩnh vực quản lý.

 

- Đổi mới cơ chế giám sát hoạt động của Đoàn thanh tra; phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi tiêu cực, sách nhiễu trong hoạt động thanh tra, tránh lạm quyền gây khó khăn phiền hà cho tổ chức cá nhân là đối tượng thanh tra. Tăng cường hoạt động kiểm soát của người ra quyết định thanh tra, Thủ trưởng cơ quan thanh tra với Trưởng Đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra. Làm rõ hình thức kiểm soát (qua việc giám sát và kiểm tra) của người ra quyết định thanh tra với Trưởng Đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra, cụ thể hóa trình tự, thủ tục giám sát, kiểm tra và xử lý vi phạm.

 

- Quy định rõ hơn nữa quyền khiếu nại, tố cáo, phản ánh, kiến nghị của đối tượng thanh tra, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và cơ chế giải quyết trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, đồng thời phù hợp với tính chất, đặc điểm của hoạt động thanh tra./.

 

ThS. Ngô Mạnh Hùng,

Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống tham nhũng

Thanh tra Chính phủ



([1]) Báo cáo số 2333/BC-TTCP ngày 25/12/2019 của Thanh tra Chính phủ.

([2]) Báo cáo số 330/BC-CP ngày 22/9/2016 của Chính phủ.

 ([3]) Báo cáo số 1082/BC-TTCP ngày 06/7/2020 của Thanh tra Chính phủ.

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: