Trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp    
Cập nhật: 20/01/2021 08:36
Xem lịch sử tin bài

Trách nhiệm giải trình là khái niệm được thảo luận nhiều ở Việt Nam trong khoảng hơn mười năm trở lại đây. Thuật ngữ “trách nhiệm giải trình” thường đi cùng với thuật ngữ “công khai, minh bạch” với ý nghĩa là biện pháp phòng ngừa tham nhũng.

1. Quan niệm trách nhiệm giải trình         

Trách nhiệm giải trình là khái niệm được thảo luận nhiều ở Việt Nam trong khoảng hơn mười năm trở lại đây. Thuật ngữ “trách nhiệm giải trình” thường đi cùng với thuật ngữ “công khai, minh bạch” với ý nghĩa là biện pháp phòng ngừa tham nhũng. Thuật ngữ này chính thức xuất hiện lần đầu tiên trong Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng, sau đó được quy định trong Luật Pphòng, chống tham nhũng sửa đổi, bổ sung năm 2012[1].

Trách nhiệm giải trình hiện nay đang được tiếp cận theo hai cách. Cách tiếp cận thứ nhất, quan niệm trách nhiệm giải trình là thuộc tính, là tập hợp các chuẩn mực đạo đức của chủ thể công quyền, cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức nhà nước, chủ động cung cấp thông tin, giải thích chứng minh và chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình trước các bên liên quan. Trách nhiệm giải trình trong trường hợp này được đồng nghĩa với trách nhiệm chính trị[2]. Trách nhiệm giải trình ở nghĩa này mang tính chủ động và có phạm vi rộng. Cách tiếp cận thứ hai, quan niệm trách nhiệm giải trình là trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể được ủy quyền phải cung cấp thông tin, giải thích, chứng minh về quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, chịu sự chất vất và có thể chịu chế tài  trước chủ thể ủy quyền và các bên liên quan[3].

Cách tiếp cận thứ hai tỏ ra có ý nghĩa hơn trong khoa học pháp lý bởi có thể chỉ rõ trách nhiệm giải trình là trách nhiệm của ai đối với ai, trong mối quan hệ nào, quyền và nghĩa vụ tương ứng của mỗi chủ thể, nội dung và phương thức thực hiện, hệ quả pháp lý của việc thực hiện. Từ cách tiếp cận này, có thể quan niệm trách nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước là nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước phải cung cấp thông tin, giải thích, chứng minh về quá trình thực hiện nhiệm vụ và kết quả thực hiện nhiệm vụ, chịu sự chất vất và có thể phải chịu chế tài trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể khác có liên quan. Trách nhiệm giải trình ở nghĩa này mang tính bị động và có phạm vi hẹp hơn.

Những nghiên cứu trong và ngoài nước về trách nhiệm giải trình thường tập trung vào chủ thể là các cơ quan hành chính nhà nước. Đây cũng là điều dễ hiểu vì các cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể thực hiện quyền hành pháp, là nhánh quyền lực mạnh nhất ở tất cả các quốc gia. Tuy nhiên cũng có những nghiên cứu về trách nhiệm giải trình của các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước, trong đó có cơ quan tư pháp, là chủ thể được trao quyền tư pháp, chủ thể được nhân danh công lý để đưa ra phán quyết đối với mọi tranh chấp, mọi hành vi vi phạm. 

Trước tiên cần làm rõ các khái niệm “quyền tư pháp”, “hoạt động tư pháp” và “cơ quan tư pháp”. Cho đến nay, ở Việt Nam vẫn có những cách hiểu khác nhau về khái niệm “quyền tư pháp”. Bên cạnh quan điểm cho rằng quyền tư pháp có nội dung căn bản, cốt lõi là việc xét xử vẫn có quan điểm cho rằng quyền tư pháp bao hàm cả quyền điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án kéo theo quan niệm về hoạt động tư pháp bao gồm toàn bộ các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, cơ quan tư pháp bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan thi hành án. Theo quy định tại Điều 102 Hiến pháp 2013, Tòa án được xác định là cơ quan thực hiện quyền tư pháp: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Như vậy, Hiến pháp đã xác định rõ chủ thể thực hiện quyền tư pháp, cùng với việc ghi nhận Quốc hội thực hiện quyền lập pháp và Chính phủ thực hiện quyền hành pháp. Tuy nhiên, Hiến pháp đã không xác định rõ phạm vi quyền tư pháp. Trong giới học thuật hiện nay có quan điểm cho rằng chỉ nên quan niệm quyền tư pháp là quyền có nội dung cốt lõi là xét xử, đưa ra phán quyết đối với các tranh chấp và các hành vi vi phạm. Từ đó, có thể xác định nội dung căn bản của hoạt động tư pháp chính là hoạt động xét xử của tòa án và khi đề cập đến cơ quan tư pháp tức là đang đề cập đến tòa án và các thẩm phán thực hiện chức năng xét xử. Tác giả đồng ý với quan điểm này và trong phạm vi bài viết này, hoạt động tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của toà án.

Nguyên tắc quan trọng nhất trong hoạt động tư pháp đó là tính độc lập, bảo đảm sự độc lập của quyền tư pháp đối với quyền lập pháp và quyền hành pháp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Montesquieu trong tác phẩm Tinh nhần pháp luật đã nhấn mạnh: “Sẽ không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không tách khỏi quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan toà sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hành pháp, thì ông quan toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp”[4]. Ở đây đặt ra vấn đề như vậy trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp liệu có mâu thuẫn với độc lập của tư pháp?. Đã có những tranh luận về vấn đề này. Có quan điểm cho rằng “thành luỹ bảo vệ các thẩm phán chính là sự độc lập, bản thân sự độc lập đã biểu hiện giá trị của nó, sự độc lập đó sẽ bị tổn hại bởi cơ chế trách nhiệm giải trình[5]. Quan điểm khác chấp nhận trách nhiệm giải trình của tư pháp nhưng lại cho rằng “yêu cầu về trách nhiệm giải trình đã được thoả mãn bởi tất cả các phiên toà đều diễn ra công khai, truyền thông được tự do đưa tin về những gì đang diễn ra, chấp nhận những phán xét từ các nhà bình luận học thuật và có thể bị xem xét lại bởi toà án cấp trên[6]. Quan điểm này có phần đúng nhưng chưa đầy đủ. Bản thân các phiên toà diễn ra công khai chỉ là cơ sở để xem xét trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp mà thôi. Nguyên tắc độc lập của tư pháp cần được hiểu là độc lập trong mối quan hệ quan hệ với lập pháp và hành pháp, rằng cơ quan lập pháp và hành pháp không thể can thiệp hoặc gây ảnh hưởng trái pháp luật đến việc xét xử của toà án. Độc lập của toà án hoàn toàn không phải là sự độc lập tuyệt đối, độc lập không có sự kiểm soát.

Nhìn nhận từ phương diện tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, quyền tư pháp chỉ là một bộ phận của quyền lực nhà nước. Giống như các nhánh quyền lực khác, quyền tư pháp cần phải được đặt trong cơ chế kiểm soát tổng thể để ngăn ngừa mọi nguy cơ lạm dụng quyền lực. Điều 2, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng khẳng định tinh thần này: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Trách nhiệm giải trình chính của cơ quan tư pháp chính là một công cụ giúp kiểm soát quyền lực này. Mục đích thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp suy cho cùng là để bảo đảm cho các phán quyết của toà án cần phải được xem xét và cân nhắc thật kỹ lưỡng, cũng là để bảo đảm cho niềm tin của công chúng vào sự công bằng của cơ quan tư pháp.

  2. Các hình thức trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp

Trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau và gắn bó chặt chẽ với các hình thức kiểm soát hoạt động tư pháp. Cùng là một vấn đề nhưng được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau nên giữa các cách nhìn nhận chắc chắn sẽ không tránh khỏi một vài điểm trùng lặp. Tuy nhiên, việc nhìn nhận từ các góc độ khác nhau là cần thiết để có thể có được nhận thức sâu sắc và toàn diện nhất.  

Thứ nhất, trách nhiệm giải trình chính trị: cơ quan tư pháp có trách nhiệm phải cung cấp thông tin, chịu sự chất vấn và có thể phải chịu chế tài từ các cơ quan nhà nước khác đối với việc thực thi quyền lực của mình. Thẩm phán có thể phải chịu sự chất vấn, thậm chí là cách chức từ các cơ quan khác trong bộ máy nhà nước. Ở Hoa Kỳ, các thẩm phán liên bang (và các thẩm phán tòa Tối cao) được Tổng thống lựa chọn và phê chuẩn “với sự gợi ý và tán thành” của Thượng viện và “có thể tại vị nếu có hành vi đúng đắn”. Các thẩm phán có thể bị bãi nhiệm bởi Ủy ban đại diện và các cáo buộc của Thượng viện. Trong lịch sử đã có 14 thẩm phán liên bang bị bãi nhiệm do các hành vi sai trái bị cáo buộc[7]. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ, các vi phạm của thẩm phán có thể bị xem xét theo thủ tục luận tội gồm: phản quốc, nhận hối lộ. Thủ tục tố tụng gồm 2 giai đoạn: luận tội ở Hạ viện và xét xử ở Thượng Viện[8].

 

Ở Việt Nam, trách nhiệm giải trình chính trị của cơ quan tư pháp cũng được thể hiện rõ trong mối quan hệ giữa Toà án nhân dân tối cao với Quốc hội, Toà án nhân dân và Hội đồng nhân dân các cấp. Khoản 2, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”. Từ nguyên tắc hiến định này, nội dung, hình thức và cách thức thực hiện quyền giám sát của của Quốc hội được quy định cụ thể trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2015. Các hình thức xem xét báo cáo công tác năm, giám sát theo chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm tại diễn đàn Quốc hội chính là những biểu hiện cụ thể của việc thực hiện trách nhiệm giải trình về chính trị của cơ quan tư pháp. 

 

Thứ hai, trách nhiệm giải trình pháp lý: các thẩm phán có trách nhiệm giải trình pháp lý đối với những vi phạm trong quá trình xét xử của mình. Trong trường hợp này, trách nhiệm giải trình pháp lý đồng nghĩa với trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà thẩm phán phải gánh chịu khi vi phạm các quy định của pháp luật. Giống như các công chức khác trong bộ máy nhà nước, vì những lý do khác nhau, các thẩm phán cũng có thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Về nguyên tắc, những hành vi vi phạm này phải bị xem xét. Tuỳ theo mức độ vi phạm mà thẩm phán phải chịu trách nhiệm pháp lý về hình sự, dân sự hoặc kỷ luật. Một số quốc gia đặt ra quy định riêng khi xem xét trách nhiệm của thẩm phán, một số quốc gia áp dụng các quy định như đối với công chức thông thường. Những đặc điểm của trách nhiệm giải trình như nghĩa vụ cung cấp thông tin, giải thích, chứng minh, chịu sự chất vấn và phải chịu chế tài được thể hiện rõ trong quá trình xem xét trách nhiệm pháp lý của thẩm phán.

 

Trách nhiệm bồi thường nhà nước trong hoạt động tố tụng có thể được xem là trách nhiệm giải trình pháp lý của cơ quan tư pháp. Trách nhiệm này thường được thực hiện hiện khi xảy ra các sai sót trong quá trình tố tụng gây thiết hại đến cá nhân, tổ chức. Trong trường hợp này, cá nhân thẩm phán thường cũng phải chịu trách nhiệm liên quan gọi là trách nhiệm hoàn trả, Theo đó, trách nhiệm bồi hoàn của cá nhân được xem xét trên cơ sở yếu tố “lỗi”. Nếu cá nhân được xác định có “lỗi” thì phải hoàn trả phần kinh phí mà nhà nước đã sử dụng để bồi thường cho  người bị hại, đồng thời phải chịu trách nhiệm kỷ luật, thậm chí trách nhiệm hình sự. Nếu cá nhân được xác định không có “lỗi” thì không bị truy cứu trách nhiệm. Quy định về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước và trách nhiệm bồi hoàn của người thi hành công vụ trong hoạt động tư pháp cũng được quy định rõ trong văn bản pháp luật của Việt Nam[9]

 

Thứ ba,  trách nhiệm giải trình nội bộ: tính chất nội bộ được thể hiện ở chỗ trách nhiệm giải trình của thẩm phán chỉ được thực hiện trong nội bộ hệ thống cơ quan tư pháp. Đó có thể là trách nhiệm giải trình của tòa án cấp dưới trước tòa án cấp trên, cũng có thể là trách nhiệm giải của thẩm phán đối với các vi phạm về quy tắc ứng xử trong quá trình xét xử một vụ án.  Mỗi vụ án thông thường trải qua hai cấp xét xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm. Ngoài ra, vụ án còn có thể được xem xét lại theo trình tự tái thẩm hoặc giám đốc thẩm. Trong các trường hợp này, thẩm phán đều phải thực hiện trách nhiệm giải trình về quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình.

 

Thứ tư, trách nhiệm giải trình nghề nghiệp: quá trình xét xử của thẩm phán chịu sự giám sát về của các thẩm phán khác, của các luật sư và giới chuyên môn. Công việc của thẩm phán là phải lựa chọn một cách hợp pháp và hợp lý các quy định của pháp luật để đưa ra phán quyết về vụ việc đang được xét xử. Phán quyết đó phải bảo đảm sự khách quan và công bằng. Ngoài ra, thẩm phán còn phải có những kỹ năng khác để bảo đảm cho phiên tòa được diễn ra theo đúng những yêu cầu của pháp luật. Những điều này thể hiện chuyên môn nghề nghiệp của thẩm phán. Trách nhiệm giải trình nghề nghiệp của thẩm phán cũng có thể được thực hiện trước các thẩm phán cấp cao hơn hoặc hội đồng thẩm phán trong các thủ tục xét xử đặc biệt. Ở nhiểu quốc gia trên thế giới, thẩm phán được bổ nhiệm với nhiệm kỳ trọn đời. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm nguyên tắc xét xử độc lập, đồng thời nó cũng là một cơ sở chính trị - pháp lý quan trọng để thẩm phán thực hiện trách nhiệm giải trình nghề nghiệp. Trách nhiệm giải trình nghề nghiệp có thể chuyển thành trách nhiệm giải trình pháp lý trong trường hợp thẩm phán mắc phải những sai lầm nghề nghiệp nghiêm trọng. Trách nhiệm giải trình nghề nghiệp có sự giao thoa với trách nhiệm giải trình nội bộ và trách nhiệm giải trình xã hội.

 

Thứ năm, trách nhiệm giải trình xã hội: Thẩm phán có trách nhiệm đưa ra những phán quyết công bằng và sự công bằng chính là đối tượng giám sát của toàn xã hội. Về nguyên tắc, mọi phiên tòa đều phải diễn ra công khai, công chúng có thể theo dõi trực tiếp hoặc thông qua các phương tiện truyền thông. Mọi diễn biến của phiên tòa đều được quan sát một cách kỹ lưỡng từ nhiều phía, đặc biệt là từ các luật sư và giới báo chí. Ngay cả những người dân không am hiểu về pháp luật cũng có thể có những đánh giá cảm quan về sự công bằng trong phán quyết của Tòa án. Những lực lượng xã hội này có thể tạo ra sức ép rất lớn đối với các thẩm phán trong quá trình xét xử. Một phán quyết khách quan và công bằng có thể mang lại uy tín rất lớn cho thẩm phán. Ngược lại, một phán quyết thiếu công bằng có thể phải hứng chịu sự phản ứng dữ dội từ phía dư luận, dẫn tới việc xem xét các trách nhiệm giải trình khác của thẩm phán. Trách nhiệm giải trình xã hội sẽ phát huy được hết ý nghĩa của mình nếu nguyên tắc xét xử công khai được thực hiện một cách đầy đủ, trọn vẹn.

 

3. Vướng mắc trong thực hiện trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp và một số đề xuất, kiến nghị

 

Mặc dù không được gọi tên là trách nhiệm giải trình song những hình thức trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp gắn liền với các phương thức kiểm soát hoạt động tư pháp đều đã được quy định trong hệ thống pháp luật của Việt Nam và được thực hiện trên thực tế. Bên cạnh những kết quả tích cực, trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp còn gặp phải một số vướng mắc cả trong quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện. Xin nêu ra một số vướng mắc căn bản như sau:

 

Thứ nhất, về trách nhiệm giải trình chính trị: Theo quy định của pháp luật, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo công tác trước Quốc hội, nếu trong thời gian Quốc hội không họp thì có trách nhiệm báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, với trách nhiệm là tư lệnh ngành, phải chịu sự chất vấn của Quốc hội, chịu sự đánh giá của Quốc hội thông qua thủ tục lấy phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định về tiêu chí hoạt động cụ thể trong việc thực hiện quyền tư pháp (cấu trúc bản án, yêu cầu đối với bản án giám đốc thẩm, yêu cầu về tập hợp và công khai bản án) để làm cơ sở cho việc chất vấn và đánh giá trách nhiệm. Những thông tin do cơ quan tư pháp cung cấp thường mang tính một chiều, chưa đủ cơ chế để kiểm tra thông tin, kiểm tra tính xác thực của các bản báo cáo. Nội dung giải trình theo yêu cầu chủ thể giám sát đôi lúc còn đi vào một số vụ án cụ thể, điều này làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập trong hoạt động xét xử.

 

Thứ hai, về trách nhiệm giải trình nội bộ: Trách nhiệm giải trình nội bộ được thể hiện khá rõ qua cơ chế giám đốc xét xử. Theo đó, khi phát hiện có việc áp dụng sai pháp luật hoặc xét xử sai một vụ án, Tòa án nhân dân tối cao có quyền kháng nghị, xem xét bản án bị kháng nghị. Nếu phát hiện sai sót thì có quyền tuyên hủy bản án và đưa ra hướng xét xử đúng đắn. Tòa án cấp dưới có nghĩa vụ tuân thủ hướng xét xử đưa ra trong quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao. Như vậy, quyết định giám đốc thẩm cần phải lý giải cặn kẽ bản án bị kháng nghị đã sai ở chỗ nào, đặc biệt là đối với những sai sót trong áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, Tòa án tối cao lại không có thẩm quyền giải thích pháp luật

 

Thứ ba, về trách nhiệm giải trình nghề nghiệp và trách nhiệm giải trình xã hội: hai loại trách nhiệm có phần giao thoa với nhau, hoạt động nghề nghiệp của thẩm chịu sự giám sát của các thẩm phán khác, của các luật sư, của giới chuyên môn và của toàn xã hội. Trách nhiệm giải trình này cần có điều kiện tiên quyết là công khai minh bạch trong toàn bộ quá trình xét xử, đặc biệt là những lập luận và phán quyết của tòa án. Khoản 3, Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tòa án nhân dân xét xử công khai. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của đương sự. Tòa án nhân dân có thể xét xử kín”. Quy định này trong Hiến pháp đã cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của nguyên tắc xét xử công khai. Việc công khai các bản án, quyết định của Tòa án gần đây cũng đã được quy định cụ thể tại Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16 tháng 3 năm 2017 về việc công bố bản án, quyết định trên cổng thông tin điện tử của tòa án. Tuy nhiên, Nghị quyết cũng quy định nguyên tắc của việc công khai: “Việc công bố bản án, quyết định phải tuân theo quy định của pháp luật về bảo đảm an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục, bí mật điều tra, bí mật công tác, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, bảo vệ người dưới 18 tuổi; tôn trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Như vậy, phạm vi công khai còn phụ thuộc vào việc xác định các loại danh mục bí mật. Nếu không được kiểm soát tốt thì chính những quy định về bí mật này sẽ trở thành rào cản cho một quy định hết sức tiến bộ trong ngành tư pháp.

 

Để khắc phục những vướng mắc, bất cập nói trên cần có nghiên cứu, thực hiện một số giải pháp căn bản như sau:

 

Thứ nhất, nhận thức đúng đắn về trách nhiệm giải trình của cơ quan tư pháp, gắn nó với các thiết chế kiểm soát quyền tư pháp, nhưng phải bảo đảm tôn trọng nguyên tắc độc lập xét xử trong hoạt động tư pháp. Tăng cường trách nhiệm giải trình chính trị của cơ quan tư pháp theo hướng tập trung giải trình việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của cơ quan tư pháp mà không đi vào những vụ án cụ thể. Bổ sung các quy định về yêu cầu, tiêu chí trong thực hiện hoạt động tư pháp như quy định về cấu trúc bản bản, nội dung quyết định giám đốc thẩm, kết quả công khai bản án, quyết định của tỏa án v.v…

 

Thứ hai, tăng cường trách nhiệm giải trình nội bộ của cơ quan tư pháp trên cơ sở nhận thức đúng đắn về vị trí của cơ quan tư pháp, vai trò, tính chất của hoạt động tư pháp. Tòa án có vị trí độc lập nên các cơ chế tự kiểm soát có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trách nhiệm giải trình nội bộ của cơ quan tư pháp mà trọng tâm là việc thực hiện cơ chế giám đốc việc xét xử của Tòa án tối cao đối với các tòa án cấp dưới cần được quy định cụ thể hơn. Đặc biệt cần tiếp tục nghiên cứu cơ sở khoa học quy định thẩm quyền của Tòa án nhân dân tối cao trong việc giải thích pháp luật, làm cơ sở cho những nhận định, đánh giá đối với những bản án bị xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm. Đồng thời quy định rõ trách nhiệm của tòa án cấp dưới có bản ản bị hủy hoặc sửa theo trình tự giám đốc thẩm để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của hoạt động này.

 

 Thứ ba, thường xuyên rà soát các quy định của pháp luật về danh mục bí mật nhà nước, bí mật điều tra, bí mật công tác v.v… để hạn chế đến mức tối đa sự tùy tiện của cơ quan nhà nước, thực hiện triệt để quy định về công khai. Thực hiện việc công khai bản án, quyết định của tòa án chính là điều kiện bảo đảm để thực hiện trách nhiệm giải trình nghề nghiệp và trách nhiệm giải trình xã hội của cơ quan tư pháp.

 

“Trách nhiệm giải trình” cùng với “công khai, minh bạch” và “quyền tiếp cận thông tin” là những giá trị to lớn của nền dân chủ. Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định bản chất nhà nước ta là một nhà nước dân chủ, đồng thời cũng khẳng định nguyên tắc về phân công và kiểm soát quyền lực nhà nước. Như vậy, yêu cầu về kiểm soát quyền lực nhà nước không chỉ đặt ra đối với quyền hành pháp mà còn phải được thực hiện với các nhánh quyền lực khác trong đó có quyền tư pháp. Trách nhiệm giải trình không mâu thuẫn với nguyên tắc độc lập của tư pháp, mà ngược lại còn góp phần tăng cường trách nhiệm của cơ quan tư pháp, củng cố niềm tin của người dân.

 

ThS. Lê Thị Thúy
Trưởng phòng Quản lý Khoa học
Viện Chiến lược và Khoa học thanh tra

 


[1] Sau đây gọi tắt là Luật Phòng, chống tham nhũng

[2] Xem thêm: ThS. Phan Ngọc Tú (2010), Về trách nhiệm giải trình của chính quyền đô thị, Hội thảo chính quyền đô thị, Học viện Hành chính

[3] Xem thêm: PGS.TS Pham Duy Nghĩa (2015), Quan niệm về trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ, Chuyên đề thuộc Đề tài khoa học cấp bộ “Trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ nhằm phòng ngừa tham nhũng ở Việt Nam hiện nay”, Thanh tra Chính phủ, 2015

[4] C.L.Montesquieu: Tinh thần pháp luật, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr 101

[5] F.K.Zemans: “Public access: Ultimate Guardian of Fairness in Our Justice System”, Judicature 4, tr 173-175, Hà Lan, 1996.

[6] H. Corder, “Seeking Social Justice? Judicial Independence and Responsiveness in Changing South Africa”, Nam Phi, 2001.

[7] Thông tin cơ bản về hệ thống tư pháp Hoa Kỳ, Bộ Tư pháp, 2015

[8] Dẫn theo bài viết “Trách nhiệm giải trình của Tư pháp”, Nguyễn Quốc Hùng, Tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội số tháng 5/2016, tr 21.

[9] Xem Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017

Tổng số lượt truy cập

2982788

Membership Thành viên:
Latest New User Latest: nguyen sigiao
Hôm nay Hôm nay: 0
Hôm qua Hôm qua: 0
User Count Overall: 6
People Online People Online:
Online Online: 22
Members Thành viên: 0
Tổng cộng Tổng số: 22
Tổng cộng
Online Now Online: